Thứ Hai, 29 tháng 7, 2019

Người đặt ĐỊA DANH HẢI PHÒNG

Tuy là vùng đất cổ, có nền văn minh sớm, ở trình độ cao nhưng địa danh “Hải Phòng” lại khá trẻ.
Thời Trung đại vùng này thuộc lộ , trấn Hải Đông, sau là Đông Đạo 東道, Nam Sách thượng 南策上, thừa tuyên Nam Sách 南策承宣rồi thừa tuyên 承宣 (xứ , trấn , đạo, tỉnh ) Hải Dương 海陽.
Sau khi bình định xong Việt Nam, Pháp cắt các huyện ven biển của Hải Dương lân cận cảng Ninh Hải là: An Dương, Nghi Dương, An Lão (thuộc phủ Kiến Thuỵ) và một phần huyện Thuỷ Đường (Thuỷ Nguyên) lập Nha Hải Phòng 海防衙, ngày 11/9/1887 đổi là tỉnh Hải Phòng 海防.
1. Một số giả thuyết về địa danh “Hải Phòng”:
- Là tên gọi rút ngắn trong cụm từ Hải tần phòng thủ 海嬪防守, chức (?) của nữ tướng Lê Chân (黎真, 20 – 43, một nữ tướng của Hai Bà Trưng) đầu thế kỷ I. Nhưng trong suốt 19 thế kỷ sau đó không thấy xuất lộ một chút gì về bóng dáng của địa danh này trong thư tịch cổ !.
- Là tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức (嗣德, trị vì 1847 – 1883) trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng海陽商政关防 (hay Hải Dương quan phòng, Hải Dương phòng khẩn quan phòng) là tên được khắc trong con dấu của nha phòng khẩn ở Hải Dương. Chú ý rằng, triều đình nhà Nguyễn đã cho đặt nha Hải phòng 海防衙ở nhiều địa phương ven biển hoặc có đường biên giới giáp nước ngoài với chức năng là cơ quan bảo vệ, canh phòng chủ quyền đất nước, đâu riêng gì vùng “đất Cảng” nay!.
- Bắt nguồn từ Ty sở nha Hải Phòng hoặc đồn Hải Phòng do Bùi Viện (裴院, 1839 - 1878) lập năm 1871 đời Tự Đức khi ông ra Bắc dẹp loạn dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc (太平天國, 1851 – 1864) từ Đại Thanh (大清, 1636–1912) tràn sang cướp phá nước ta. Trong mục 11 của bản Hoà ước Giáp Thân 甲申條約do đại diện Nhà nước Cộng hoà Pháp và triều đình Huế ký ngày 15/3/1874 có đoạn ghi: “Chính phủ An Nam cam kết mở cửa thông thương các cảng Thị Nại ở tỉnh Bình Định, Ninh Hải (Hải Phòng) ở tỉnh Hải Dương, thành phố Hà Nội và cho đi qua sông Nhị Hà từ biển cho tới Vân Nam”. Bến cảng trên sông Cấm 禁江mang tên “Ninh Hải” nhưng với người Pháp[1] tên “Hải Phòng” dễ phát âm dễ hơn nên địa danh “Ninh Hải” tuy được dùng chính thức trong giấy tờ, sử sách của ta từ trước lại bị tên “Hải Phòng” loại hẳn.
Song chưa rõ ai là người đặt ra thuật ngữ “rút gọn” đó để chỉ địa danh vùng này.
Mới đây, khi đọc cuốn ĐỊA DANH HỌC VIỆT NAM của Lê Trung Hòa do NXBVHTT xuất bản năm 2013 thấy tại trang 189 có chép: “Tên Hải Phòng được Phạm Phú Thứ  đặt năm 1877, ở đó có cơ quan Hải phòng sứ, bảo vệ cửa biển”.
2. Tiểu sử Phạm Phú Thứ :
(Theo Bách khoa toàn thư mở và các tư liệu khác)
Phạm Phú Thứ (范富恕/範富庶, 1821–1882)[2] có tổ năm đời của ông vốn họ Đoàn, gốc Bắc Thành. Cha ông là Phạm Phú Sung, mẹ ông là Phạm Thị Cẩm (người làng Trừng Giang, và là con gái một ông đồ). Nhà nghèo, mẹ mất sớm, nhưng nhờ thông minh, chăm chỉ, và từng được Tùng Thiện Vương從善王Nguyễn Phúc Miên Thẩm 阮福绵审 (1819-1870, nổi tiếng thần đồng, giỏi thơ phú) dạy dỗ, nên ông Thứ sớm có tiếng là người học giỏi,
Học hành và đỗ đạt: Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), Phạm Phú Thứ dự thi Hương, đỗ Giải nguyên khi mới 21 tuổi và được vua Thiệu Trị đổi tên là Phú Thứ. Năm sau (Quý Mão, 1843), dự thi Hội, ông cũng đỗ đầu (Hội nguyên). Khi vào thi Đình, ông đỗ luôn Tiến sĩ cập đệ.
Quan trường: Buổi đầu (1844), ông được bổ làm Biên tu. Năm sau (1845), thăng ông làm Tri phủ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Giang), rồi thăng làm Thị Độc. Một thời gian sau, vì có tang cha, ông xin nghỉ chức.
Năm Tự Đức 2 (1849), ông được chuyển qua Viện Tập hiền làm chức Khởi cư chú (thư ký ghi lời nói và hành động của vua), rồi sang tòa Kinh diên (phòng giảng sách cho vua).
Năm 1850, thấy nhà vua ham vui chơi, lơ là việc triều chính, ông mạnh dạn dâng sớ can gián, nên bị cách chức và giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế). Xét án, triều đình khép ông vào tội đồ (đày đi xa); song nhà vua cho rằng đó chỉ là “lời nói khí quá khích, không nở bỏ, nhưng răn về (tính) nóng bậy”, nên ông chỉ bị đày làm “thừa nông dịch” (lính trạm chuyên chạy về việc canh nông) ở trạm Thừa Nông (Huế).
Năm 1852, ông được khôi phục hàm Biên tu (hàm lúc sơ bổ). Năm 1854, cử ông làm Tri phủ Tư Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, ông tổ chức và vận động dân chúng lập được hơn năm mươi kho nghĩa thương để phòng khi chẩn tế cho dân. Với việc làm đó, ông được cử giữ chức Viên ngoại lang ở bộ Lễ.
Năm 1855, ông được điều sang công tác quân sự để giải quyết cuộc bạo động của người Thượng ở Đá Vách (thuộc tỉnh Quảng Ngãi). Sau khi dẹp yên, ông được thăng chức Án sát sứ ở hai tỉnh là Thanh Hóa và Hà Nội.
Năm 1858, ông được chuyển về làm việc ở Nội các tại Huế.
Năm 1859, ông xin về quê để dưỡng bệnh và cải táng mộ cha. Khi trở lại triều, ông dâng sớ xin đắp đê Cu Nhí, đào sông Ái Nghĩa, đồng thời xây dựng công sự bố phòng và luyện tập quân sự ở tỉnh nhà (Quảng Nam).
Năm 1860, từ Nội các, ông được thăng chức Thị lang bộ Lại, rồi thăng làm Thự Tham tri của bộ này.
Đầu năm 1863, sau khi vua Tự Đức xét trong mấy điều khoản trong Hòa ước Nhâm Tuất còn có chỗ chưa thỏa, liền sung Phạm Phú Thứ làm Khâm sai vào ngay Gia Định, hội với Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp (hay Thiếp) để đàm phán với quan soái Pháp và quan đại thần nước Y Pha Nho (Tây Ban Nha). Không hoàn thành nhiệm vụ, ông phải bị giáng một cấp. Tháng 5 (âm lịch) năm này, ông được cử làm Phó sứ, cùng với Chánh sứ Phan Thanh Giản và Bồi sứ Ngụy Khắc Đản, sang Pháp và Tây Ban Nha với nhiệm vụ xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ.
Tháng 3 năm 1864, sứ bộ về đến Huế. Sau đó, ngoài bản tường trình cốt để thuyết phục vua Tự Đức mau “cải cách việc học tập và phát triển công nghiệp” [8], Phạm Phú Thứ còn dâng lên vua hai tác phẩm do ông làm trong chuyến đi, đó là Tây hành nhật ký và Tây Phù thi thảo. Vua xem cảm động, có làm một bài thơ để ghi lại việc này. Được tin cậy, nhà vua thăng ông làm Tham tri bộ Lại.
Năm 1865, thăng ông chức Thự Thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần. Ở chức việc này, ông đã mật tâu xin đặt 4 Tuyên phủ sứ ở Quảng Trị, Bình Định, Nghệ An và Hưng Hóa; đồng thời xin đặt “trường giao dịch chợ búa, sửa thuế thương chính, lập thổ tù” ở các nơi ấy để làm “mạnh vững nơi biên phòng, nhưng việc rút cục không thành”.
Năm 1866, quan soái Pháp phái tàu đến cửa Thuận An (Huế) đưa thư đòi “quản luôn ba tỉnh là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên”, vì ở đây “bọn trộm cướp thường qua lại”. Nhà vua liền sai Phạm Phú Thứ và Phan Huy Vịnh đến “xin giữ giao ước cũ lâu dài” .
Năm 1867, Phan Thanh Giản mất, triều đình cử Phạm Phú Thứ làm người điều đình với Pháp. Song thực dân Pháp không hài lòng về cách xử sự cứng rắn của ông, còn triều đình Huế thì không hài lòng vì việc thương lượng cứ đỗ vỡ. Cuối cùng, ông bị Ngự sử đàn hặc, và bị gọi về kinh “hậu cứu”.
Năm 1873, vì phạm lỗi, ông lại bị giáng làm Thị lang, rồi khai phục chức Tham Tri.
Năm 1874, triều đình cho mở nhà thương chính ở Bắc Kỳ. Nhà vua cho ông “là người am hiểu, và có tài cán lão luyện”, nên tháng 10 (âm lịch) năm đó, đổi ông làm Thự[3] Tổng đốc Hải Yên (còn gọi là Hải An, gồm Hải Dương và Quảng Yên, tức vùng Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh nay), kiêm sung Tổng lý thương chánh Đại thần. Đến nơi, gặp lúc đê huyện Văn Giang (nay thuộc Hưng Yên) vỡ, nước lũ tràn cả hai phủ là Bình Giang và Ninh Giang thuộc Hải Dương. Thấy dân đói khổ, ông lập tức xin trích năm vạn phương gạo ở kho Hưng Yên để phát chẩn. Đồng thời, lại phái thuộc hạ đem những người dân còn khỏe mạnh đến Đông Triều, Nam Sách...khẩn hoang, cày cấy kiếm sống.
Năm 1876, chuẩn cho Phạm Phú Thứ được thực thụ chức Tổng đốc[4] Hải An[5]. Để yên dân, ông xin đặt trường mua gạo ở chợ An Biên (thuộc huyện An Dương, Hải Phòng) và Đồ Sơn (thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh); đồng phái Thương biện là Lương Văn Tiến (anh em họ ngoại với Phú Thứ) đi hiểu dụ lưu dân, tạo công ăn việc làm cho họ, để họ thôi “càn rỡ, ngang ngược”. Ngoài ra, ông còn cho khai rộng sông ở phủ Bình Giang, mở Nha Thương Chánh và trường học chữ Pháp ở Hải Dương vào năm 1878, v.v....
Năm 1878, thăng ông làm Thự Hiệp biện Đại học sĩ, song vẫn lĩnh chức vụ cũ. Cũng trong năm này, Khâm phái ngự sử là Dương Hoàn tâu lên rằng: “Lương Văn Tiến (lúc này đang làm Giám đốc việc tuần phòng ngoài biển) cậy thế chở gạo ra ngoại quốc”...Vì vậy, Phạm Phú Thứ phải về Huế, để chữa bệnh và đợi án. Năm 1880, khi bản án dâng lên, ông bị giáng lám Quang lộc tự khanh, lĩnh chức Tham tri bộ Binh. Nhân có bệnh, ông xin về quê.
Tạ thế: Năm Tự Đức thứ 35 (Nhâm Ngọ, 1882), Phạm Phú Thứ mất tại quê nhà “giữa những ngày u ám nhất của vận mệnh chế độ phong kiến nhà Nguyễn”, thọ 61 tuổi.
Nghe tỉnh thần tâu lên, vua Tự Đức thương tiếc ban dụ, trong đó có đoạn: “Phú Thứ kinh lịch nhiều khó nhọc, đi đông sang Tây, dẫu yếu đuối cũng vâng mệnh không dám từ chối. Về việc trông coi Thương chính ở Hải Dương, khi tới nơi công việc đều có manh mối, sau này nên lấy đó noi theo. Những lưu dân, gian phỉ chứa ác ở Quảng Yên, Thứ tới kinh lý cũng được yên. Rồi mở đồn điền ở Nam Sách, thực là lo xa chu đáo, đó là công cán ngày thường rực rỡ đáng nêu. Gia ơn cho truy phục nguyên hàm Thự Hiệp biện Đại học sĩ và chuẩn cho thực thụ, cũng sắc cho địa phương tới tế một tuần.
Tác phẩm của Phạm Phú Thứ toàn bằng chữ Hán. Ngoài ra, qua sách đi sứ qua phương Tây, ông đã phiên âm nhiều địa danh, không rập khuôn theo cách gọi của người Tàu mà đặt riêng dùng cả chữ Nôm chứ không hạn chế chỉ dùng chữ Nho.
Hiện nay, lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ ở tại quê nhà tại làng Đông Bàn thôn Nam Hà 1 xã Điện Trung thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, đã được chính quyền địa phương cùng con cháu dòng tộc Phạm Phú tôn tạo lại, và đã được xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh.
Tên ông cũng đã được dùng để đặt tên cho bốn ngôi trường, đó là: Trường Tiểu học Phạm Phú Thứ, tại xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Trường trung học phổ thông Phạm Phú Thứ tại Gò Nổi (Điện Bàn, Quảng Nam), trường Trung học phổ thông Phạm Phú Thứ tại xã Hòa Sơn (Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng), và trường trung học phổ thông Phạm Phú Thứ ở đường Gia Phú, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Ở thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn và quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, Quận Hải Châu Thành phố Đà Nẵng, Thành phố Hải Phòng, Thành phố Bà Rịa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và nhiều tỉnh thành khác cũng có con đường mang tên ông.
 -Lương Đức Mến, 7/2019-


[1] “Hải Phòng” vốn là tên một đồn binh ở bến Ninh Hải  bên bờ sông Cấm, thuộc làng Cấm (Gia Viên), làng Vẻn (An Biên) huyện An Dương.
[2] Trước tên là Phạm Hào khi đỗ Tiến sĩ, được vua Thiệu Trị đổi tên là Phú Thứ  có nghĩa “rộng lượng” sau được Tự Đức đổi sang chữ "thứ" khác Phú Thứ 庶 với nghĩa “đông đúc.
[3] Thự lý 署理 là tạm trông coi.
[4] Tổng đốc 總督 là một chức quan của chế độ phong kiến trao cho viên quan đứng đầu một vùng hành chính gồm nhiều tỉnh thành. Tiền thân của chức Tổng đốc là các chức Tổng trấn và Hiệp trấn vào thời vua Gia Long, còn trước đó từ triều nhà Hậu Lê là các chức quan Trấn thủ hay Lưu trấn.
[5] Việc đề xuất địa danh “Hải Phòng” chắc thực hiện ở thời kỳ này!

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2019

Hệ thống chính trị vững mạnh là yếu tố bảo đảm kinh tế phát triển bền vững

Trong hai ngày 27 - 28/6, Đại hội Đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hải Phòng lần thứ 14, nhiệm kỳ 2019 - 2024 đã diễn ra tại thành phố Hải Phòng.
Quang cảnh Đại hội. Ảnh: An Đăng/TTXVN
Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn dự và chỉ đạo Đại hội.
Nhiệm kỳ 2019-2024, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hải Phòng đưa 5 chương trình hành động. Theo đó, Mặt trận Tổ quốc thành phố tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Các cấp mặt trận vận động nhân dân thi đua lao động sáng tạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương. Thực hiện dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, giám sát và phản biện xã hội, phòng chống tham nhũng, lãng phí thực hành tiết kiệm. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố tăng cường đoàn kết quốc tế, mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân. Mặt trận Tổ quốc tăng cường củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Cùng đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố tích cực tham gia thực hiện thắng lợi Nghị quyết 45- NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đưa Hải Phòng trở thành thành phố đi đầu cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Các mục tiêu Mặt trận Tổ quốc Hải Phòng phấn đấu đạt là: 100% số thôn, tổ dân phố đăng ký, trong đó từ 95% thôn, tổ dân phố trở lên thực hiện hiệu quả cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", "Tháng cao điểm vì người nghèo"...
Phát biểu tại Đại hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn ghi nhận, đánh giá cao những thành tích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hải Phòng đạt được trong nhiệm kỳ qua, nhất là trong công tác vận động giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, xây dựng nông thôn mới, triển khai cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"... Đồng thời, thời gian tới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hải Phòng cần nhận diện rõ những thách thức của thành phố khi tốc độ đô thị hóa nhanh, thành phần cư dân đa dạng, do đó sẽ khó khăn hơn trong việc nắm bắt tình hình nhân dân, quản lý xã hội, tệ nạn xã hội, ma túy, tội phạm, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hải Phòng tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như: tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, phong cách đạo đức Hồ Chí Minh, gắn với Nghị quyết Trung ương 4, khóa 12 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng lãng phí và các nghị quyết của Bộ Chính trị ban hành riêng cho Hải Phòng trong giai đoạn phát triển mới; đổi mới công tác tuyên truyền vận động nhân dân tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân; chủ động nắm bắt tình hình để tham mưu cho cấp ủy, phối hợp với chính quyền trong việc cung cấp thông tin, hạn chế tối đa điểm nóng phức tạp ở cơ sở. Mặt trận Tổ quốc phải thực sự đối thoại gần dân, sát dân, lắng nghe ý kiến chính đáng của nhân dân, thường xuyên báo cáo định kỳ tình hình nhân dân cho cấp ủy và chính quyền.
Cùng với đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hải Phòng tập trung thực hiện hiệu quả cuộc vận động toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững; tiếp tục triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” với nhiều giải pháp và cách làm mới.
Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh: Hệ thống chính trị vững mạnh chính là yếu tố đảm bảo kinh tế phát triển bền vững. Mặt trận Tổ quốc các cấp tiếp tục thực hiện hiệu quả quyết định của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng phản biện, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền. Mặt trận Tổ quốc thành phố cần lựa chọn những vấn đề trong Đảng được nhân dân quan tâm để kiểm tra, giám sát. Khi xử lý công việc, có những vụ việc phải kiên trì bền bỉ, kiên quyết, can đảm đến cùng để tạo niềm tin cho nhân dân; chăm lo hơn nữa đến củng cố, tổ chức cán bộ. Cán bộ mặt trận phải tiên phong về nhận thức và gương mẫu trong hành động, nhiệt tình, tâm huyết, không đùn đẩy, né tránh khi thực thi nhiệm vụ. Cơ quan mặt trận các cấp đảm bảo đồng bộ từ thành phố đến cơ sở thống nhất trong hành động, phát huy vai trò, trí tuệ tập thể đoàn kết, đảm bảo bộ máy biên chế tinh gọn, hiệu quả.
Trong nhiệm kỳ 2014-2019, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp thành phố Hải Phòng tích cực phát động các phong trào thi đua yêu nước với cách làm sáng tạo, hiệu quả, huy động được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó công tác dân vận đạt kết quả tốt. Mặt trận Tổ quốc các cấp kết hợp với các cơ quan, đoàn thể vận động, thu hồi trên 4.500 ha đất với gần 70.000 hộ dân bị ảnh hưởng, trong đó, có 10.000 hộ di dời để triển khai các dự án trọng điểm của thành phố; vận động nhân dân góp vật tư, nhân công để cải tạo nâng cấp gần 1.200 ngõ ngách, trồng mới gần 6.000 cây xanh, lắp đặt hàng nghìn cột đèn chiếu sáng...
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hải Phòng, nhiệm kỳ mới với 95 Ủy viên, trong đó có 10 Ủy viên Thường vụ, 3 Phó Chủ tịch. Ông Cao Xuân Liên tái đắc cử chức danh Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hải Phòng.
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hải Phòng đã bầu 9 đại biểu chính thức, 2 đại biểu dự khuyết tham dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX (nhiệm kỳ 2019-2024).
Dịp này, 42 tập thể, cá nhân đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác Mặt trận.
Minh Thu (TTXVN)

GHI CHÚ: Trước đó, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã có Quyết định số 879 về việc ông Cao Xuân Liên thôi giữ chức Trưởng Ban tổ chức thành ủy để giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2014-2019, chỉ định tham gia Đảng đoàn và giữ chức vụ Bí thư Đảng đoàn MTTQ Việt Nam thành phố Hải Phòng, từ ngày 6/4/2018.
Ông Cao Xuân Liên, 55 tuổi từng giữ các chức vụ: Bí thư, Chủ tịch huyện đảo Bạch Long Vỹ; Trưởng Ban kinh tế - ngân sách Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng; Bí thư huyện ủy Tiên Lãng; Trưởng Ban tổ chức thành ủy Hải Phòng.

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2019

ÁNH MẮT CỦA CHA

Vừa qua, Hội viên Hội Đồng hương Hải Phòng tỉnh Lào Cai, Trần Mai Mơ (Hội Cơ sở Kim Tân) tham gia cuộc thi thơ với chủ đề TÌNH CHA do CLB thơ Sông Cấm (thành phố Hải Phòng) tổ chức đã đạt GIẢI NHẤT với bài thơ ÁNH MẮT CỦA CHA !
Xin giới thiệu bài thơ đó của chị Trần Mai Mơ:

Khi còn ấu thơ - ánh mắt cha thu tôi vào trong cất giữ
Đến tuổi tới trường - ánh mắt mở cửa dõi theo
Dẫu khó khăn , dẫu đói nghèo
Ánh mắt cha luôn hiền từ , ấm áp !

Không phải Biển Hồ đầy nước ...cho thuyền tôi bơi
Không là ánh trăng lấp lánh sáng soi...cho tôi mơ mộng
Ánh mắt Cha nhìn như dấu hỏi
Mong tôi trả lời!

Dù đi xa muôn nơi
Đúng , sai- muôn nỗi
Cha không nói
Ánh mắt nhìn như dấu hỏi
Để tôi tự trả lời!

Giờ đây! Cha tôi đã về nơi thiên cổ
Nhìn ảnh Cha - đôi mắt vẫn hiền từ nhìn như dấu hỏi
Nhưng Cha ơi! Cha đâu còn nghe thấy
tiếng con trả lời?!!!
 Mai Mơ, Kim Tân - Lào Cai

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

Hội đồng hương Hải Phòng tại Sơn La kỷ niệm 10 năm thành lập

1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH SƠN LA:
Trước kia, Phần lớn tỉnh Sơn La ngày nay là lãnh thổ của vương quốc Bồn Man (盆蠻, 1707–1899), gồm tỉnh Xiêng Khoảng (Xiangkhouang), một phần các tỉnh Hủa Phăn (Houaphanh) đến Khăm Muộn (Khammouane) ở phía Đông nước Lào, và một phần các tỉnh miền Bắc Trung bộ Việt Nam (Tương Dương, Kỳ Sơn của Nghệ An, Quan Hoa, Quan Sơn, Mường Lát của Thanh Hóa, phần lớn Sơn La).
Năm 1479, Sơn La chính thức sáp nhập vào Đại Việt大越 thời vua Lê Thánh Tông (黎聖宗, 1442 –1497) lúc đầu đặt thuộc Trấn Ninh 鎮寧, sau là đất  Phủ Gia Hưng 嘉興府 thuộc Thừa tuyên xứ Hưng Hóa興化承宣. Năm 1490 đổi là xứ Hưng Hóa. Đời Hồng Thuận (1509-1516) đến đầu đời Gia Long gọi là trấn Hưng Hoá  興化鎮. Dưới triều Nguyễn (阮朝, 1802 – 1945), năm Tân Mão 1831, Minh Mạng đổi thuộc tỉnh Hưng Hóa 興化省
Bình định xong Bắc kỳ, người Pháp cho phân định lại địa giới, đặt những tỉnh mới. Riêng tỉnh Hưng Hóa đặt các đạo quan binh, tiểu quân khu sau đó chia thành các tỉnh để dễ dàng cai trị: tháng 5 năm 1886 thành lập tỉnh Chợ Bờ (tức tỉnh Mường, sau đổi thành Phương Lâm rồi  Hòa Bình); ngày 7 /1/1899 thành lập đạo quân binh IV bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai, Tiểu quân khu Vạn Bú... Lào Cai là đạo lỵ. Về sau đổi thành các tỉnh dân sự như: tỉnh Yên Bái (1895), tỉnh Vạn Bú (1895, sau đổi thành tỉnh Sơn La), tỉnh Lào Cai (tháng 7 năm 1907, gọi là Lao Kay) và tỉnh Lai Châu (tháng 6 năm 1909). Phần còn lại của tỉnh Hưng Hóa  vốn đã thêm huyện Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây (từ 1891), huyện Hạ Hòa thuộc phủ Lâm Thao (1893), phủ Đoan Hùng từ tỉnh Tuyên Quang (1895) từ ngày 5 tháng 5 năm 1903 được đổi tên thành tỉnh Phú Thọ. Đây là  những tỉnh thuộc vùng Tây Bắc ngày nay.
Riêng Sơn La (thành lập 10/1895, tỉnh lỵ ở Vạn Bú tức Tạ Bú), Thiếu tá De Chateaurochet làm Phó công sứ Sơn La. Kế nhiệm là Moulié (11/1886)
Ngày 23 tháng 8 năm 1904: đổi tên thành tỉnh Sơn La, tỉnh lỵ chuyển về nơi ngày nay là thành phố Sơn La. Công sứ Pháp đầu tiên là Jean G. Monpeyrat, lên cầm quyền thay công sứ Sévénier từ năm 1902 đến năm 1909. Kế nhiệm ông là các công sứ Pháp như Hernandez (1909 - 1911), Fillion, Bonnermain, Louis Rene, Pierre Grossin, Nempont, Romanetti, Saint Poulof (1928 - 1933), Cousseau, Gabon, Robert.
Năm 1907, công sứ Monpeyrat cho xây dựng nhà tù Sơn La. Năm 1917, công sứ Pháp Laumet mở trường dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp.
Năm 1933, công sứ Gabriel M. de Saint-Poulof (cầm quyền thay Romanetti từ năm 1928) bị đầu độc chết trong cuộc chiến đấu đòi vượt ngục của tù nhân ở Sơn La. Năm 1939, công sứ Cousseau lên thay. Năm 1944, Robert thay ông ta làm công sứ Sơn La và cai trị đến năm 1945.
Sau năm 1946, tỉnh Sơn La cùng với hai tỉnh Lai Châu và Phong Thổ (do Pháp lập ra, gồm Văn Bàn, Than Uyên, Sình Hồ, Bát Xát, Cốc Lếu và Phong Thổ) lập thành “Xứ Thái tự trị” nằm dưới sự chỉ đạo của Pháp do Bạc Cầm Quý làm tỉnh trưởng Sơn La.
Năm 1950 dưới chính thể Quốc trưởng Bảo Đại (保大, 1913 – 1997) ra Dụ số 6 ký ngày 15/4 đặt vùng này cùng với tỉnh Hải Ninh (tức Quảng Ninh nay) và Xứ Thượng Nam Đông Dương (tức Tây Nguyên nay) để thành Hoàng triều Cương thổ (皇朝疆土, Domaine de la Couronne, 1950-1955).
Trong kháng chiến, 1948-1953:  Sơn La đặt thuộc Liên khu Việt Bắc va có 6 huyện: Mường La, Thuận Châu, Phù Yên, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu.
Cuối cuộc kháng chiến, để củng cố căn cứ địa Tây Bắc mới giải phóng, ngày 28/01/1953 có Sắc lệnh số 143/SL  các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu tách ra khỏi Liên khu Việt Bắc thiết lập Khu Tây Bắc.
Sau Hòa bình, theo Sắc lệnh số 230-SL, ngày 19/4/1955, thuộc Khu tự trị Thái Mèo.
Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Quốc hội thông qua Nghị quyết đổi tên khu tự trị Thái Mèo thành khu tự trị Tây Bắc và thành lập ba tỉnh: Lai Châu (7 huyện: Điện Biên, Tuần Giáo, Mường Tè, Tủa Chùa, Mường Lay, Sình Hồ và Phong Thổ), Sơn La (7 huyện: Quỳnh Mai, Thuận Châu, Mường La, Mai Sơn, Sông Mã, Yên Châu, Mộc Châu và thị xã Sơn La) và Nghĩa Lộ (4 huyện: Than Uyên, Mù Cang Chải, Văn Chấn và Phù Yên).
Sau khi thống nhất đất nước, theo Quyết định của Quốc hội khóa V, kỳ họp thứ 2 ngày 27 tháng 12 năm 1975, giải thể Khu tự trị Tây Bắc, tỉnh Sơn La nhập thêm 2 huyện của tỉnh Nghĩa Lộ là Phù Yên và Bắc Yên. Từ đó, tỉnh Sơn La có tỉnh lị là thị xã Sơn La và 9 huyện: Bắc Yên, Mai Sơn, Mộc Châu, Mường La, Phù Yên, Quỳnh Nhai, Sông Mã, Thuận Châu, Yên Châu.
Ngày 2 tháng 12 năm 2003, chia huyện Sông Mã thành 2 huyện: Sông Mã và Sốp Cộp; Ngày 10 tháng 6 năm 2013, chia huyện Mộc Châu thành 2 huyện: Mộc Châu và Vân Hồ.
Ngày 3 tháng 9 năm 2008, thị xã Sơn La thành thành phố Sơn La.
Hiện nay, Sơn La là tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, tỉnh có diện tích 14.125  km² chiếm 4,27% tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ 3 trong số 63 tỉnh thành phố. Toạ độ địa lý: 20039’ - 22002’ vĩ độ Bắc và 103011’ - 105002’ kinh độ Đông. Địa giới: phía bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu; phía đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình; phía tây giáp với tỉnh Điện Biên; phía nam giáp với tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Huaphanh (Lào); phía tây nam giáp tỉnh Luangprabang (Lào).
Sơn La có đường biên giới quốc gia dài 250 km, chiều dài giáp ranh với các tỉnh khác là 628 km.
Toàn tỉnh có 12 đơn vị hành chính (1 thành phố, 11 huyện) với 12 dân tộc.


2. VỀ HỘI ĐỒNG HƯƠNG HẢI PHÒNG TẠI TF SƠN LA
Hội đồng hương Hải Phòng tại thành phố Sơn La (trước là Hội đồng hương Hải Phòng thị xã Sơn La) thành lập ngày 14/2/2009 ban đầu có 30 hội viên. Đến nay, số hội viên tăng lên 150, sinh hoạt ở 4 chi hội.
Ở Sơn La còn có Hội đồng hương Hải Phòng tại huyện Mai Sơn.
Hội đã mở rộng quan hệ giao lưu; gặp mặt đánh giá các hoạt động trong năm, bổ sung, hoàn thiện quy ước; tổ chức thăm hỏi gia đình hội viên có người đau ốm, việc hiếu, hỷ; tích cực quyên góp hỗ trợ những hội viên gặp tai nạn, rủi ro; tặng quà, mừng thọ, khen thưởng các cháu học sinh giỏi… Đồng thời, hỗ trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế. Hội cho hội viên vay quỹ để mua sắm trang thiết bị, mở rộng sản xuất…
Những người Hải Phòng tại Sơn La luôn hướng về quê hương, tuyên truyền lịch sử, những bước đổi mới của thành phố Cảng. Hội thường xuyên tổ chức đoàn về thăm Hải Phòng trong các dịp kỷ niệm Ngày giải phóng Hải phòng 13-5, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ, Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn…; thăm hỏi, tặng quà các con, cháu của các cựu chiến binh ở Hải Phòng bị nhiễm chất độc màu da cam…
Hội từng bước đa dạng hình thức, nâng cao chất lượng hoạt động, trở thành cầu nối gắn kết những người con xa quê với thành phố Hải Phòng.
 Luôn tự hào là người Hải Phòng, Hội còn giữ mối quan hệ gắn bó với các hội đồng hương Hải Phòng tại nhiều tỉnh, thành phố: Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tăng cường tình đoàn kết giữa người Hải Phòng trên cả nước, tương trợ lẫn nhau và cùng nhau hướng về quê hương nguồn cội.
Phát huy tinh thần, truyền thống vẻ vang của quê hương đất Cảng “Trung dũng, quyết thắng”, mọi cán bộ hội viên và các thế hệ con cháu người Hải Phòng tại Sơn La luôn đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong công tác sản xuất, kinh doanh, làm ăn sinh sống góp phần xây dựng quê hương Sơn La - một tỉnh miền núi cao, biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc - ngày càng giàu đẹp.

3. LỄ KỶ NIỆM 10 NĂM NGÀY THÀNH LẬP
Trong không khí đầm ấm, thắm tình đồng hương, Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Hội đồng hương Hải Phòng tại thành phố Sơn La được tổ chức sáng 16-3 tại thành phố Sơn La (tỉnh Sơn La) với 57 đại biểu Hội viên.
Tới dự có đoàn đại biểu thay mặt UBMTTQ, HĐND, Thành ủy, UBND thành phố Hải Phòng, đoàn đại biểu quân Đồ Sơn, thành phố Sơn La và đại diện các Đoàn đồng hương Hải Phòng tại các tỉnh, thành phố (Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội).
Phát biểu tại buổi lễ, Phó chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng Lê Khắc Nam thông tin một số thành công nổi bật trong phát triển kinh tế- xã hội của thành phố Hải Phòng thời gian qua. Thay mặt lãnh đạo thành phố, đồng chí ghi nhận, biểu dương kết quả hoạt động của Hội đồng hương Hải Phòng tại Sơn La và đánh giá, hoạt động của Hội đa dạng, chất lượng, trở thành cầu nối giữa những người con Hải Phòng tại tỉnh Sơn La. Phó chủ tịch UBND thành phố mong muốn thời gian tới, các hội viên của Hội tiếp tục đoàn kết, gắn bó, có đóng góp tích cực vào sự phát triển của thành phố Cảng quê hương.
Nhân dịp này, 6 tập thể và 13 cá nhân của Hội đồng hương Hải Phòng tại Sơn La vinh dự được UBND thành phố Hải Phòng tặng Bằng khen vì có nhiều thành tích xây dựng Hội, hướng về cội nguồn.
Đồng thời, Hội đồng hương Hải Phòng tổ chức mừng thọ cho 11 cụ từ 70-85 tuổi; vinh danh 15 hội viên tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong 10 năm xây dựng tổ chức Hội. 



4. HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN LÀO CAI:
Nhận lời mời của HĐHHP tại tf Sơn La, Thường trực HĐHHP tỉnh Lào Cai cử đoàn sang dự gồm 9 người: 4 Phó Chủ tịch BCH Hội (Phạm Văn Hựu, Bùi Xuân Xanh, Lương Đức Mến, Phạm Văn Trọng), 2 Ủy viên BCH (Phạm Văn Trọng, Đỗ Thanh Tâm) và 2 Hội viên tiêu biểu (Nguyễn Thanh, Hoa Mai).
Đoàn đã hoạt động tích cực, hoàn thành tốt sứ mệnh mà lãnh đạo Hội giao. Đoàn Lào Cai là đoàn HĐH đông nhất, duy nhất được mời tham gia biểu diễn trước giòa khai mạc, được mời, giới thiệu phát biểu trong buổi Lễ, đồng thời đã tiến hành giao lưu riêng với lãnh đạo thành phố Hải Phòng, các đoàn HĐH các tỉnh Điện Biên, Lạng Sơn, Cao Bằng.




Đoàn đã tranh thủ ghé thăm Nhà máy Thủy điện Sơn La, tham dự buổi Khai mạc Lễ hội Mùa Hoa Ban.

Khi ra về Đoàn được BTC và đại diện lãnh đạo tf Hải Phòng cũng như HĐHHP tại Sơn La tiễn ra tận xe và đoàn đã tranh thủ ghé thăm gia đình một Hội viên tiêu biểu của HĐHHP tại tf Sơn La.




Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019


Chiều 04/01/2019 Thường trực Hội  Đồng hương Hải Phòng tỉnh Lào Cai (Vũ Xuân Tỉnh, Lương Ngọc Hoản, Lương Đức Mến, Đỗ Thanh Tâm)  viếng Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Phạm Thị Phước (thân mẫu hội viên Trần Văn Cải) quê Hưng Đạo, Kiến Thụy hiện ở Phú Nhuận huyện Bảo Thắng.

Sau đây là một số hình ảnh:











Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2018

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2018

Dự Tổng kết hoạt động năm 2018 với Hội cơ sở xã Sơn Hà

Sáng ngày 25/11/2018 Thường trực Hội Đồng hương Hải Phòng tỉnh Lào Cai cùng đại biểu một số Hội cơ sở (Cốc Lếu, Kim Tân, Phố Mới, Quang Kim, Xuân Quang, Sơn Hải) và đại diện Đảng ủy, HĐND, MTTQ, UBND xã Sơn Hà về dự Tổng kết hoạt động năm 2018, bàn phương hướng hoạt động năm 2019 với 65 đại biểu đại diện cho 163 Hội viên Hội Đồng hương Hải Phòng xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Sau đây là một số hình ảnh văn nghệ “cây nhà lá vườn” và giao lưu Văn nghệ tại Hội nghị:
 

















Tại Hội nghị, sau khi nghe dự thảo báo cáo chung, các đại biểu đã được nghe ý kiến phát biểu của hội viên, đại diện các Hội cơ sở; ý kiến chỉ đạo của đ/c Bí thư Đảng ủy xã, của ông Chủ tịch BCH HĐH HP tỉnh Lào Cai.
Tại Hội nghị BCH HĐH Hải Phòng tỉnh đã trao Bằng khen cho Hội cơ sở xã và 4 Chi hội (An Thắng, An Trà và Khe Mụ) đồng thời trao phần thưởng của Quỹ khuyến học Nguyễn Bỉnh Khiêm cho 2 cháu đạt thành tích cao trong học tập. Hội cơ sở xã cũng trao phần thưởng cho 5 Hội viên hoạt động tích cực.
Một số hình ảnh trong Hội nghị: