Hiển thị các bài đăng có nhãn Tương lai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tương lai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 11, 2021

LƯỢC SỬ 60 năm người Hải Phòng xây dựng Kinh tế-Văn hóa-An ninh-Quốc phòng tại tỉnh Lào Cai

Cuộc lên khai hoang tại Lào Cai của đồng bào Hải Phòng từ đầu những năm 1960 là sự tiếp nối truyền thống cha ông, học tập tiền nhân lên miền núi khai hoang những vùng “đất rộng người thưa” góp phần củng cố sức mạnh của miền biên ải, giãn dân nơi “đất chật, người đông”.

Sau khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, Ban CHTW (Khóa III) đã có Nghị quyết  Số 26-NQ/TW, tháng 7 năm 1961 “Về vấn đề phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”, chủ trương đưa đồng bào miền xuôi lên khai hoang miền núi. Cũng trong năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào miền xuôi đi xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá miền núi dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thường được biết dưới cái tên “KHAI HOANG”.

Công cuộc khai hoang miền núi đó được khởi động và diễn ra trong Bối cảnh mới, cần có những quyết sách mới sau khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh

Quán triệt chỉ đạo của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ  III, tháng 2/1961 xác định mục tiêu, nhiệm vụ khai thác tiềm năng nông nghiệp, lâm nghiệp trên địa bàn; chú trọng thu hút nhiều nhân lực mới từ miền xuôi lên, góp phần phân bố lại dân cư tại địa phương, hỗ trợ các tỉnh miền xuôi trong tổng thể nền kinh tế chung của miền Bắc trước tình hình mới.

Cũng trong thời gian đó, quán triệt các Nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ tỉnh Kiến An đã hướng tới vùng đất giầu tiềm năng đất đai, khoáng sản, tài nguyên nơi “đất rộng người thưa” là tỉnh Lào Cai.

Từ đó lãnh đạo 2 tỉnh đã có những chủ trương, kế hoạch, bước đi thích hợp. Cụ thể là:

- Ngày 28/4/1961 Tỉnh uỷ Kiến An ra Quyết nghị số 4/QNN/TU lập bộ phận “Nghiên cứu và xây dựng kế hoạch, tổ chức vận động nhân dân đi khai hoang ở tỉnh Lào Cai” đã xúc tiến nhiều việc trong đó có việc khắc phục khó khăn về giao thông, khảo sát thực tế tại Lào Cai.

Sau đó ngày 12/11/1961  Hội nghị Đại biểu BCH tỉnh Đảng bộ 2 tỉnh Kiến An (Bí thư Lê Huy là Trưởng đoàn)  Lào Cai (Bí thư kiêm Chủ tịch Hoàng Trường Minh là trưởng đoàn) đã ra Nghị quyết về việc kết nghĩa toàn diện giữa 2 tỉnh,  trong đó có việc vận động nhân dân Kiến An lên Lào Cai khai hoang nhằm “phối hợp điều hòa nhân lực và phát triển kinh tế giữa hai tỉnh” với 5 năm 1961-1965 vận động 8-9 vạn nhân dân Kiến An lên Lào Cai.

Lào Cai tiếp nhận người dân đến khai hoang từ nhiều tỉnh nhưng duy nhất có Nghị quyết giữa 2 tỉnh là giữa Lào Cai và Kiến An (nay là Hải Phòng)!

Sau khi Ban Bí thư nhất trí chủ trương, Quốc hội khóa II, tại kì họp thứ 5 ngày 27/10/1962 đã ra Nghị quyết hợp nhất Hải Phòng-Kiến An lấy tên là Hải Phòng. Đại hội Đảng bộ Hải Phòng lần thứ Nhất (10/7-14/7/1963) đề ra nhiều quyết sách, trong đó có việc tiếp tục đưa nhân dân Hải Phòng lên khai hoang tại Lào Cai.

Đây là cuộc vận động lớn, công tác chính trị tư tưởng được coi trọng và có nhiều cách làm mới có ý nghĩa cách mạng to lớn, đóng góp vào cuộc cách mạng tư tưởng - văn hoá, cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng KHKT. Do vậy, đã đem lại luồng sinh khí mới cho cuộc vận động dãn dân ở các tỉnh miền xuôi và tinh thần xây dựng hậu phương lớn, đón nhận đồng bào lên xây dựng quê mới ở Lào Cai.

Việc tổ chức thực hiện đã đạt nhiều kết quả với bước đi phù hợp

Mở đầu, tháng 3/1961, hơn 500 cán bộ, đảng viên, lao động trẻ khoẻ là những người con ưu tú của các làn xã trong các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thuỵ, An Lão, An Dương, Đồ Sơn thuộc Kiến An có mặt trong đoàn khai hoang lên xây dựng Hợp tác xã tập trung Sơn Hải thuộc xã Sơn Hà (1965 tách ra thành 2 xã là Sơn Hà và Sơn Hải), huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai mà các Đội được thành lập lấy ngay tên huyện ở quê làm tên Đội.

Sau đoàn đầu tiên ấy, tỉnh Lào Cai tiếp nhận thêm trên 600 cán bộ, đảng viên, lao động chính, khoẻ mạnh của Hải Phòng lên xây dựng 2 hợp tác xã tập trung là An Trà (xã Sơn Hà), Tân Thành (xã Phố Lu) đều thuộc huyện Bảo Thắng. Tiếp theo đồng bào từ tỉnh Kiến An lên được lãnh đạo tỉnh Lào Cai cùng lãnh đạo các huyện Bảo Thắng, Mường Khương, Bát Xát đón tiếp tại Ga Phố Lu, Làng Giàng, Phố Mới đưa về các bản, xã.  Đến 1963 đã thành lập 25 HTX khai hoang độc lập và 22 hợp tác xã xen kẽ đồng bào khai hoang và đồng bào sở tại trong tổng số 410 HTX tại Lào Cai. Nhiều điển hình tiên tiến trong sản xuất xây dựng tại các HTX khai hoang như  An Trà, Sơn Hải, Giao Bình, Hoà Lạc, An Lạc (Bảo Thắng), An San, Quang Kim, Đông Thái (Bát Xát) Bản Sen (Mường Khương), Bản Mẹt, Bảo Tân (Bắc Hà), Đông Du, Đông Xá, Tân Khai (Sa Pa) được nhân ra diện rộng.

Do có chủ trương đúng, công tác tư tưởng làm tốt, việc tổ chức thực hiện  với bước đi phù hợp nên cuộc vận động đã đạt kết quả tốt đẹp

 Trong những năm 1960 đến 1974, người Hải Phòng lên Lào Cai tập trung chủ yếu ở Tằng Loỏng, Phú Nhuận, Phố Lu, Sơn Hà, Phong Niên, Xuân Quang, Trì Quang thuộc huyện Bảo Thắng, Cốc San, Quang Kim thuộc Bát Xát và Bảo Nhai của Bắc Hà. Nhiều địa danh mới với tên ghép ấm tình miền sơn cước và gợi nhớ về cố hương đã ra đời. Đó là: An Trà (Kiến An-Bản Trà), An Phong (An Lão-Phong Niên), Vĩnh Phong (Vĩnh Bảo-Phong Niên), Tân Phong (Tân Liên-Phong Niên)... ở Bảo Thắng; An Quang (Kiến An-Quang Kim) ở Bát Xát...

Trải qua những bước thăng trầm lịch sử, nhiều gia đình gốc Hải Phòng đã 2 – 3 đời sinh cơ lập nghiệp tại Lào Cai; nhiều người hay con em của họ trưởng thành được giao trọng trách trong các cấp chính quyền, trong các cơ quan, đơn vị; trong LLVT; nhiều doanh nhân, văn nghệ sĩ người Hải Phòng đã có đóng góp vào sự phát triển của Lào Cai.

Thế hệ hôm nay tự hào và được kế thừa bản lĩnh người Lào Cai được tạo dựng nên từ “hợp nguồn” xuôi - ngược trong vị thế mới.

Như vậy, hơn 10 năm, 18 vạn đồng bào miền xuôi (trong đó người Hải Phòng có 4 vạn) lên quê mới thành cư dân Lào Cai nhưng luôn gắn bó với quê cũ cả về tâm tư, tình làng xóm, dòng họm truyền thống lao động, yêu độc lập tự do, niềm tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương của Đảng và của lãnh đạo 2 tỉnh; nó đã góp phần làm thay đổi căn bản bộ mặt cả cố hương và tân quê, đặc biệt trong việc giữa vững bình yên ở 2 đầu: miền núi Tây Bắc và duyên hải Đông Bắc nước ta.

Nhìn lại chặng đường 60 năm qua có thể thấy những bài học kinh nghiệm mà tựu trung lại, có thể khái quát như sau:

- Tiếp nối truyền thống di dân từ miền xuôi lên miền núi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam để tăng cường sứ mạnh toàn diện cho biên ải.

- Phù hợp với Bối cảnh lịch sử và quan điểm của Đảng về miền núi những năm 1960 trong hoàn cảnh cả nước tiến hành đồng thời hai cuộc Cách mạng.

- Việc vận động đồng bào lên khai hoang miền núi những năm 1960 và chính sách đối với người đi của tỉnh Kiến An (sau là Hải Phòng) có nhiều sáng tạo.

- Việc tiếp nhận, sắp xếp dân cư đối với người dân khai hoang của các địa phương thuộc Lào Cai đã được chú trọng toàn diện, sát hợp.

- Được sự chỉ đạo đúng, sát của lãnh đạo hai tỉnh cả trên phương diện nhận thức tư tưởng, bước đi thích hợp, thống nhất, phối hợp hành động tốt.

Nó góp vào kinh nghiệm chung của bà con, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền cơ sở có đông đồng bào Hải Phòng trong việc thực hiện các cuộc vận động, góp phần phấn đấu sớm đưa Lào Cai ra khỏi diện tỉnh nghèo, quyết tâm xây dựng quê hương Lào Cai-Hải Phòng giàu mạnh, xứng đáng là nơi “phên dậu quốc gia” vùng Tây Bắc và Đông Bắc.

Những bài học kinh nghiệm bổ ích của cuộc vận động sẽ là sức mạnh nội lực ở từng cơ sở, địa phương và kết quả cuộc vận động còn góp kinh nghiệm, ý nghĩa lịch sử to lớn với sự phát triển KT-VH-XH-ANQP của 2 tỉnh, của cả nước!

Sự đóng góp về tài năng, trí tuệ và nghị lực của người Hải Phòng trên quê hương mới được lãnh đạo các cấp ở Lào Cai cũng như Hải Phòng ghi nhận. Công lao của bà con, ngoài những người được nhà nước, chính quyền các cấp ghi nhận bởi những Huân, Huy chương, Kỷ niệm chương, Bằng, Giấy khen còn hàng vạn người, đủ mọi tầng lớp, mọi nghề nghiệp, trình độ, những người bình dân “chân lấm tay bùn” đã âm thầm cống hiến đời mình cho tân quê, cho mối quan hệ đôi quê và cho đất nước.

Trong quá trình 60 năm ấy đã nêu bật vai trò, ảnh hưởng của người khai hoang và có 3-4 thế hệ gốc đất Cảng được sinh ra và lớn lên tại “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việ,  bà con tự tập hợp nhau lại báo cáo cấp có thẩm quyền và được tỉnh cho phép thành lập “Hội Đồng hương”. Những năm trước hoạt động lẻ tẻ, không thống nhất, không có mối liên hệ thường xuyên.

Khởi đầu từ 2007, đến nay Hội đồng hương Hải Phòng tại tỉnh Lào Cai đã qua 3 kỳ Đại hội. Sự ra đời của Hội đồng hương Hải Phòng đáp ứng được lòng mong mỏi của các thế hệ người Hải Phòng vẫn từng ngày gắn bó với Lào Cai.. Từ chỗ 1 vài cơ sở tự phát với mấy trăm hội viên, hiện nay Hội đã có 26 Hội cơ sở ở 26 xã phường trong 9 huyện, thị xã, thành phố với 2.430 hội viên. Đặc biệt, hôm 16/11/2021, BCH HĐHHP huyện Bảo Thắng sau nhiều hoạt động độc lập với gần 400 Hội viên đã có buổi giao lưu với Thường trực BCH HĐHHP tỉnh và thống nhất nhập chung về một mối là HĐHHP tỉnh Lào Cai.

Việc tổ chức các đoàn về thăm quê, đón các đoàn ở quê lên; khen thưởng các cháu học sinh giỏi, chúc thọ các cụ, thăm hỏi khi ốm đau, chia sẻ lúc hoạn nạn…là những nét nổi bật mà Hội Đồng hương Hải Phòng là một trong những Hội Đồng hương hoạt động thường xuyên, thiết thực có hiệu quả.

Chúng ta không thể quên nghĩa tình đồng hương khi bà con gặp nạn thiên tai ở Bắc Hà, Mường Khương, Bát Xát…hay khi gặp sự cố ở Bảo Thắng đều được Hội đến hỏi thăm mang theo những tình cảm và vật chất hỗ trợ phần nào. Đặc biệt việc Chúc thọ các cụ Cao niên, việc tặng quà các cháu có thành tích trong học tập, việc hỗ trợ các gia đình có công,…là những việc làm thắm đượm nghĩa tình mà đâu phải Hội Đồng hương nào của giữ được nếp thường xuyên!

Với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, Hội cũng là nơi mà bà con gửi gắm, thực thi nhiều hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”.

Cách đây 15 năm, việc Kỷ niệm 40 năm người Hải Phòng đi khai hoang tại Lào Cai được Sở Nông nghiệp phát triển Nông thôn thành Phố Hải Phòng tổ chức vào năm 2001, mặc dù quy mô khiêm tốn nhưng nó như là một sự mở đầu.

 Đáp ứng nguyện vọng của bà con, Lễ Kỷ niệm 50 năm người Hải Phòng đi xây dựng kinh tế- văn hóa-quốc phòng tại Lào Cai đã được tổ chức long trọng ngày 18/3/2012 tại Trung tâm Hội nghị thành phố khi đó là Hội trường lớn của tỉnh. Cách đây 5 năm, đúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 61 năm giải phóng quê hương đất Cảng, ngày 13/5/2016, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, hơn 700 đại biểu dự Kỷ niệm 55 năm người Hải Phòng đi xây dựng kinh tế- văn hóa-quốc phòng tại Lào Cai. Đó là kết quả của sự quan tâm, chỉ đạo, ủng hộ chí tình, có hiệu quả của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Lào Cai và thành phố Hải Phòng.

Từ lần Kỷ niệm 55 năm đến nay đã 5 năm. Thời gian ấy, Lào Cai có nhiều chuyển biến sâu sắc, và người Hải Phòng tự hào là có góp sức, góp công.

Đó cũng là 5 năm mà Hội đồng hương Hải Phòng phát triển sâu rộng, có nhiều hoạt động có ý nghĩa, thiết thực như giao lưu giữa các Hội Đồng hương trên mọi miền Tổ quốc, giao lưu với quê hương…

Trong đó đáng chú ý là việc Hải Phòng xây dựng Đơn nguyên lớp học 2 tầng trường Tiểu học số 2 xã Sơn Hà và nhà Sinh hoạt cộng đồng xã Sơn Hải (huyện Bảo Thắng) trị giá hơn 5 tỷ đồng bàn giao vào ngày 26/5/2018; Dịp tháng 4,5/2020 lãnh đạo huyện Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, Tiên Lãng, An Lão đã cử đoàn đại biểu do các đ/c Ủy viên BTV, Ủy viên BCH huyện ủy làm Trưởng đoàn cùng đại diện lãnh đạo một số ban ngành đã lên thăm và tặng quà là 42 tấn gạo cho những hộ gặp khó khăn là người Hải Phòng đang sinh sống, làm việc tại Lào Cai.

Đáp lại ân tình của quê hương, Hội Đồng hương Hải Phòng tỉnh đã tổ chức nhiều đợt về thăm những danh lam thắng cảnh, cơ sở kinh doanh, sản xuất giỏi của quê hương, đặc biệt đầu năm Canh Tý 2020, Lào Cai làm nòng cốt và vận động người Hải Phòng ở các tỉnh Lào Cai, Điện Biên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Yên Bái, Nam Định, tf Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội tham gia Tết trồng Cây tại thành phố Cảng Trung dũng. Kết quả đã trồng được 117 cây đặc trưng của mỗi tỉnh, trong đó có những cây thuộc loại quý hiếm: Sưa đỏ, Hoàng Đàn, Bồ Đề, Nghiến, Tre Làng ngà, Lát Hoa, Đào, Hoa Ban, Trúc tại Khu Di tích Bạch Đằng Giang. Một số Hội còn mang theo những hộp đựng đất lấy tại nơi có ý nghĩa, như: nơi người Hải Phòng đặt chân đầu tiên lên khai hoang, nơi Bác Hồ về nước sau bao năm bôn ba, Ải Chi Lăng, Bến Cảng Nhà Rồng, …  

Chúng ta ghi nhớ và tri ân những cán bộ, đảng viên, những nông dân, thanh niên hừng hực khí thế khai hoang ngày đó, người có công, có thành tích được thưởng Huân, Huy Chương, được các cấp khen thưởng và cả những người vì lý do nào đó chưa được khen. Chúng ta và mai sau không được phép lãng quên lớp người vỡ hoang, mở đất và cả những người đến sau góp phần xây dựng, chấn hưng thôn xóm. Truyền thống và hiện tại, cũ và mới chan hòa, đoàn kết xây dựng quê hương tươi sáng, mạnh giầu.

Hiện nay, như chúng ta đều biết giữa Hải Phòng và Lao Cai đạt được những kết quả bước đầu trong việc hợp tác phát triển kinh tế, đặc biệt là tuyến kinh tế hai hành lang, một vành đai. Bà con Hải Phòng tại Lào Cai là vừa là người thụ hưởng thành quả đó đồng thời còn là những thành viên tích cực thực hiện cơ sở cơ chế hợp tác của hai địa phương, tuân thủ  pháp luật, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và giúp đỡ bà con các dân tộc Lào Cai. Đó là cách thiết thực Hội chúng ta giáo dục hội viên thực hiện nghiêm túc chỉ thị của lãnh đạo thành phố Hải Phòng và tỉnh Lào Cai.

Kỷ niệm một Hoa giáp, ngày đồng bào Hải Phòng đi xây dựng Kinh tế-Văn hóa-Xã hội tại Lào Cai, đề nghị các đ/c lãnh đạo các cấp và bà con tập trung trí tuệ, sức lực, huy động mọi nguồn để dần biến việc kỷ niệm ngày này thực sự là ngày Hội của người Hải Phòng trên đất Lào Cai và mong rằng thế hệ con em chúng ta tiếp tục duy trì được ngày Kỷ niệm đầy ý nghĩa đó.

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

Nghĩ về HỎA TÁNG VÀ CÁI NÓNG

Khi mẫu thân ngày một cao tuổi, dù muốn hay không anh em tôi vẫn phải nghĩ đến việc lo “hậu sự” cho bà. Cũng vì thế mà tôi hay được hầu chuyện các cụ cao niên trong xóm, ở quê với nỗi lo: khi chết con cháu nó đưa đi “thui”.

Một số lão nông già, ít chữ, ít giao tiếp với xã hội gọi “hỏa táng” là “thui” và cho rằng như vậy mình sẽ bị “nóng”, người thân,  con cháu còn lại thì “thương người thân” chả dám “đốt”! Điều này do người nọ rỉ tai người kia và “chưa ai chết được hỏa táng rồi lại trở về” mà tả được cảm giác đó nên chả ngã ngũ gì. Nhưng chả lẽ không có lời giải về khoa học cũng như tâm linh?

1.            TỨ TÁNG:

Trước khi tìm hiểu về vấn đề này, thiết nghĩ cũng nên ôn lại một số khái niệm liên quan. Những khái niệm này bản thân đã tìm hiểu, có chép lại, lý giải thêm và từng đưa lên trang nhà. Nay không cần nhắc lại.

Ở đây chỉ nhấn thêm vài điểm: Táng là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết; Phần mộ cá nhân là nơi táng thi hài, hài cốt của người chết; Mai táng là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết ở một địa điểm dưới mặt đất; Chôn cất một lần là hình thức mai táng thi hài vĩnh viễn; Hung táng là hình thức mai táng thi hài trong một khoảng thời gian nhất định sau đó sẽ được cải táng; Cải táng là việc chuyển xương cốt từ mộ hung táng sang hình thức táng khác; Nghĩa trang là nơi táng người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau và được quản lý, xây dựng theo quy hoạch.

Mặt khác, việc xử lý thi xác sau chết thường được tiến hành dưới 4 hình thức gọi là Tứ táng  (H: 四喪 , A: The four manners of treatment with the dead body, P: Les quatre manières de traiter un cadavre), gồm: 

-  Thổ táng 土喪: chôn xác người chết xuống đất, thường thấy ở Việt Nam, Trung Hoa và một số vùng bởi niềm tin: “Chúng sanh tất tử, tử tất quy thổ, thử chi vị quỷ. Cốt nhục tễ vu hạ, âm vi dã thổ, kỳ khí phát dương vu thượng vi chiêu minh” (眾生必死,死必歸土,此之謂鬼. 骨肉斃於下,陰為野土;其氣發揚於上,為昭明), nghĩa là: con người ai cũng phải chết, chết tất trở về đất, xương thịt xuống thấp tan biến vào trong đất, còn khí dương bay lên cao trong sáng rực rỡ. Hình thức này vốn phổ biến ở ta và ngày một chiếm nhiều đất hơn.

- Hỏa táng 火喪: (hay được gọi không trọn nghĩa là hỏa thiêu hay thiêu) là hình thức an táng người chết bằng cách đem xác người chết thiêu ở nhiệt độ cao cho cháy sạch phần hữu cơ rồi thu lấy tro hay các xương bỏ vào hũ nhỏ đặt lên bàn thờ hay cho vào tiểu sành chôn xuống đất như Cát táng. Tục lệ nầy thường thấy ở Ấn Độ và ở những nước có đông đảo tín đồ Phật giáo.

- Thủy táng 水喪: đem xác người chết bỏ giữa biển khơi, để  cho các loài cá ăn thịt, nên cũng gọi cách nầy là Ngư táng (chôn vào bụng cá). Tục lệ nầy thường thấy ở lực lượng Hải quân và những bộ lạc sống trên các hòn đảo nhỏ giữa Thái Bình Dương.

- Điểu táng 鳥喪: Xác người chết được chặt thành nhiều mảnh nhỏ, đem đặt xác trên đỉnh núi, treo trên ngọn cây để các loài chim như: kn kn, quạ,... ăn thịt. Tục lệ nầy ở xứ Tây Tạng, vì xứ nầy toàn là núi đá, lại bị tuyết phủ quanh năm nên ít có cây cối để làm củi đốt. Hơn nữa Phật giáo tại đây cho rằng sau khi chết, xác người chỉ là một cái vỏ rỗng không, có thể cho thú vật làm thức ăn.

- Ngoài ra, một số nơi có tục lệ đem xác người chết bỏ vào rừng sâu để cho các loài thú dữ đến ăn thịt gọi là lâm táng 林喪. Ở một số nền văn hóa khác, người ta lại cố gắng làm chậm quá trình phân hủy của xác trước tang lễ (thậm chí có thể làm chậm quá trình phân hủy sau khi chôn cất), ướp xác hoặc tạo các mô mi. Một cách mai táng mới là “mai táng sinh thái”. Nó bao gồm sự làm đông xác ở nhiệt độ rất thấp, sau đó tán thành bột bằng cơ chế rung, làm khô ở nhiệt độ lạnh, loại bỏ kim loại, sau cùng là thiêu hủy thành phần bột còn lại, chỉ chiếm khoảng 30% khối lượng cơ thể. Gần đây còn có ý tưởng về “vũ trụ táng”: dùng tên lửa đưa một phần tro cốt vào không gian.

Bên cạnh đó, nhiều người đã hiến toàn bộ hoặc một phần xác cho khoa học (nổi tiếng nhất là Einstein) để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy môn giải phẫu. Tại Việt Nam, từ năm 1996, phong trào hiến xác cho khoa học đã bắt đầu phát triển với sự phát động của Giáo sư Nguyễn Quang Quyền ở trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.

2.            TÌM HIỂU VỀ HỎA TÁNG

Đối với những người đương đại trên đất Việt thì hỏa táng là “mới” nhưng thực ra, lịch sử ghi nhận rằng  trên thế giới và ngay cả ở Đại Việt thì việc này có từ lâu đời rồi.

Đối với dân tộc Việt (người Kinh) thì việc hỏa táng xuất hiện sớm nhất khoảng đầu Công nguyên, cùng niên đại với việc du nhập của đạo Phật. Những năm 1960 khi chúng tôi từ Hải Phòng lên Lào Cai vẫn thấy những khu rừng mà dấu vết cây cháy còn rõ, dân bản địa nói đó là nơi thiêu một ai đó. Ngay xóm tôi ở từ 2/1964 thì đầu xóm là “rừng hủi”, tức cánh rừng “già” nhất khu, là nơi từng “đốt” xác một người trong vùng; cuối xóm là “lọ lu” là ngôi mộ che bán mái được lợp bằng thân cây nứa chẻ đôi  mà người Dao bản địa nói trong đó chứa tro cốt.

Hiện nay, theo một số tài liệu thì tàn dư của tục hỏa táng (bằng củi) có thể tìm thấy trong dân tộc Thái ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An và Lai Châu và tục hỏa táng còn khá thịnh hành ở người Thái đen.

Do hỏa thiêu thực hiện bằng cách “đốt” thi xác ở nhiệt độ cao nên theo sự tiến bộ của công nghệ mà việc hỏa táng từ nhiệt được cung cấp bằng củi, tiến lên bằng điện, rồi gas tự nhiên, dầu, khí propane,…

Ngày nay, việc hỏa thiêu được tiến hành ban đầu tại Cơ sở hỏa táng. Đó là cơ sở vật chất bao gồm lò hỏa táng và các công trình phụ trợ khác (khu văn phòng, khu kỹ thuật, khu lưu trữ tro cốt, nhà tang lễ, các công trình hạ tầng kỹ thuật). Trong đó, bộ phận cốt lõi ban đầu là Lò hỏa táng, nơi tiến hành trực tiếp việc thiêu xác.

Ở Việt Nam hiện nay, các lò hỏa táng (buồng đốt) đều được nhập từ nước ngoài, với công nghệ cao, tự động, vận hành nhanh chóng và chính xác.

Trong quá trình thiêu, nhiệt độ trong lò có thể lên tới hơn 1.000 độ C và sức nóng này đủ để thiêu hết toàn bộ phần hữu cơ của thi xác và vật dụng đi kèm. Mức nhiệt độ này được đặt và khởi động từ trước và việc đưa xác người đã chết vào cần nhanh chóng để tránh bị mất nhiệt. Tùy theo yêu cầu sau hỏa thiêu, gia đình muốn nhận lại Tro – Cốt mảnh xương hay Cốt nguyên xương mà người ta đặt quy trình và mức nhiệt thiêu khác nhau. Thực ra, tro cốt người quá cố không bao giờ “còn nguyên xương” bởi nhiệt cao mà còn lại ít tùy thuộc vào cơ địa của người mất. Nên chớ mắc “cò mồi” mà bị lừa!

Đúng ra, Hoả táng không cần đến quan tài như cách chôn truyền thống ở ta. Nhưng để đảm bảo tính nghiêm trang của tang ma, tôn trọng đối với người đã mất cũng như đảm bảo vệ sinh với người sống nên người chết vẫn được Khâm liệm, Nhập quan bình thường. Tất nhiên phải là quan tài bằng gỗ dễ cháy, chả cần gỗ tốt, quý, như Dổi, Vàng tâm, Pơ mu,…Chiếc quan tài đó sẽ được đốt cháy trước tiên trong quá trình hoả thiêu.

Chú ý rằng Hoả táng là thiêu cháy hết toàn bộ thi xác nên trước khi thực hiện nó thì phải được kết luận rõ nguyên nhân gây tử vong và về mặt pháp lý phải có Giấy Khai tử của cấp có thẩm quyền (UBND cấp  ). Đồng thời, các thiết bị cơ khí y khoa như van tim, máy hỗ trợ nhịp tim, tai nghe điện tử,… hay đồ trang sức như nhẫn, vòng, khuyên tai,… và các loại tương tự khác phải loại bỏ trước khi thiêu vì chúng có thể phát nổ do gặp nhiệt độ cao, gây hỏng hóc các thiết bị hỏa táng và gây nguy hiểm cho các kỹ thuật viên.

Hiện nay, ở Hoa kỳ, người ta còn hỏa táng không dùng lửa gọi là “hỏa táng xanh”. Khi đó, người ta dùng nước, kali hydroxit và nhiệt độ làm phân rã thi thể người quá cố bên trong một buồng thép kín. Việc này không chỉ thân thiện với môi trường mà còn cần ít thời gian hơn.

Quy trình hỏa thiêu: quan tài có chứa thi xác đưa vào buồng đốt thì quan tài đó sẽ bị thiêu hoàn tòan trước. Sau đó, da và tóc bị cháy, các cơ bắp teo lại và cháy thành than, các mô mềm bốc hơi, xương nhanh chóng bị vôi hóa. Các khí giải phóng ra trong quá trình này được thải ra ngoài qua một hệ thống ống xả nên bên ngoài không thấy mùi gì, có chăng sẽ chỉ có thấy mùi gas đốt.

Nếu gia đình hiếu chủ cần nhận lại tro (những hạt mịn) thì có khi sẽ hỏa táng hai lần hoặc các kỹ thuật viên dùng một cây gậy dài để làm vụn hay các mảnh xương được tán thành bột bằng máy chuyên dụng. Khi thi xác chỉ còn lại tro các kỹ thuật viên sẽ thu hết lại cho vào một khay và để nguội.

Tất nhiên một lượng nhỏ xương có thể vẫn còn trong buồng đốt và bị trộn lẫn với các vụn của các xác thiêu sau này. Hoặc trong số tro cốt đó có thể lẫn cả vật vô cơ chưa hóa lỏng như đinh vít, bản lề,… của quan tài, răng giả, răng vàng, vít phẫu thuật, nẹp xương, chân tay giả, đồ trang sức…của người quá cố hoặc đồ tùy táng không cháy được như: kim loại, sành sứ,…. Tất cả nhừng “dị vật” đó sẽ được loại bỏ ra khỏi tro xác nhờ nam châm hoặc tìm nhặt của kỹ thuật viên.

Tro, mảnh xương hay xương sẽ được kỹ thuật viên xếp, đặt cẩn trọng vào lọ, tiểu giống như khi bốc mộ,…bọc gói cẩn thận rồi giao cho gia đình.

3.            HẬU HỎA THIÊU:

Tro cốt sau hỏa thiêu sẽ được thu gom đựng trong lọ hay đặt trong tiểu. Lọ hay tiểu sành này có thể được lưu trong kho Đài hỏa táng hoặc trao cho gia đình hiếu chủ về mai táng, hay đặt tại Chùa, Nhà thờ, hoặc thờ tại gia trang.

Chú ý nếu hạ thổ mà khi thiêu lấy xương đựng trong tiểu thì mai táng như thông thường còn nếu lấy tro đựng trong lọ thì phải đặt đứng lọ tro cốt trong tiểu chứ không đặt nằm ngang. Những việc làm này sẽ giúp cho phần tro cốt được yên lành, con cháu mới không gặp những điều ngang trái, tai họa.

Nhớ lại, cổ nhân cho rằng: phần tro cốt còn lại chỉ là biểu tượng của người qua đời, là người thân mà ta thương yêu còn chính “người” đó đã chết, phải về với cõi âm nên không nên đem tro cốt về nhà thờ cúng. Bởi khi đó ngôi nhà thêm nặng âm khí, thiếu dương khí, chưa nói đến việc lọ đựng tro cốt có thoát khí ra ngoài khiến người trong nhà rất dễ bị nhiễm bệnh.

Với gia đình Phật tử, gửi tro cốt người thân lên chùa, sẽ siêng đến chùa, sẽ có cơ hội gần Phật pháp, có cơ hội phát tâm tu tập, làm lành lánh dữ. Mặt khác khi tro cốt người thân đặt trên chùa sẽ thường xuyên được hưởng hương khói, tụng kinh nên sẽ lành hợn.

4.           TÂM LINH TRONG VIỆC HỎA TÁNG:

Theo quan điểm của cổ nhân thì con người có hai phần hợp thành Thể phách (H: 體魄, A: The body and spirit, P: Le corps et l'esprit) tức là thể xác và tinh thần hay phần “thân” và phần “tâm”. Thân (H: 身體, A: body, P: corps) là kết hợp của tứ đại (Thổ, Thủy, Phong, Hỏa), khi con người chết thì đất, nước, gió, lửa đều tan ra trở về với cát bụi còn Tâm, tức Linh hồn (H: 靈魂 , A: The soul, P: L'âme) là cái phần vô hình của con người, nó rời bỏ thể xác khi con người đã chết thì theo nghiệp lực thọ sinh và thành vong linh (H: 亡靈, A: Soul of dead person, P: L'âme du mort), cái còn lại người trần nhìn thấy chỉ là thi xác hay thi thể (H: 屍體, A: Dead body, P: Cadavre).

Ngay các tôn giáo cũng có nhận thức tương tự: Thiên Chúa giáo cho rằng “thân xác là cát bụi phải trở về cát bụi”, Phật giáo quan niệm “thân xác là nhân duyên, thần thức mượn xác nhập vào làm con người”.

Do vậy, khi con người “chết” đi, phần hồn, thần thức đã rời khỏi phần xác, đã được giải thoát nên việc “hỏa thiêu” là chỉ đốt cái xác, khác hoàn toàn hình thức “tra tấn” dưới địa phủ; linh hồn người đã khuất không bị đốt cháy nên họ không phải phải chịu sự đau đớn.

Thực tế đã minh chứng rằng: có những vấn đề không có nhưng khi tự ám ảnh thái quá thì sẽ trở thành sự thật nên cứ nghĩ “thiêu là nóng” thì sẽ lây lan ra nhiều người là “nóng” thật! Và trớ trêu thay, những “phán” này hay “nhập” vào những người “yêu bóng vía”, lâu dần thành ám thị, nguy hiểm!

Như vậy, cái mà người ta gọi là  “sức nóng” chỉ là ẩn dụ, là sự “mặc cảm” của người  sắp mất, vừa mất và thân nhân “yếu vía”. Do đó, dù là thiêu (hỏa táng) hay chôn (địa táng) thì thân xác của người chết cũng đã mất đi mọi cảm giác, không còn biết nóng lạnh, đau đớn là gì. Tất cả chỉ là do người sống nghĩ ra !.

Hơn nữa, khi chết nếu xác đã thiêu thì người chết không thể mượn xác thân của mình để hiện ra nữa nên chẳng còn “ma”, hoặc không còn lưu luyến nhân gian, quyến luyến cái thân xác cũ nên sớm đầu thai sang một kiếp khác!

Cũng vì vậy vong linh của người đã mất đều không bị ảnh hưởng đến việc siêu thoát, tái sinh và việc để lại phúc đức cho con cháu.

Mặt khác, như nhiều lần đã nghiên cứu đều khẳng định: cát táng không phải tục nguyên gốc của người Việt và tục này chỉ thịnh hành ở Bắc bộ. Đồng thời nó luôn đè nặng con cháu một nỗi no: thịt đã tiêu hết chưa, hay xương thịt, thậm chí cả ván đã bị mối xong rồi,…Lại rất mất vệ sinh! Trong khi hỏa táng hay “đào sâu chôn chặt một lần” tránh được tâm lý đó!

5.           VĨ THANH:

Hiện nay, dương gian thì đất chật người đông, âm phần thì mồ mả chen chúc, …là thực tế nhãn tiền. Đặc biệt nghĩa địa tự phát, không có quy hoạch làm ảnh hưởng xấu đến cảnh quan kiến trúc, lãng phí tài nguyên đất, không đảm bảo vệ sinh môi trường. Những vùng, gia đình còn “nệ cổ” thì việc cải táng luôn ám ảnh tâm lý, gây mất vệ sinh,…không phù hợp với cuộc sống văn minh, hiện đại…

Như trên đã phân tích thì việc “hỏa thiêu” chỉ là thiêu cái “xác” không hồn và khi đó linh hồn người chết đã thoát ra, bay đi nên không tháy có cảm giác “nóng”. Việc con cháu chôn hay thiêu xác đều có ý nghĩa như nhau; tro, xương hay thi xác được địa táng hay hỏa táng cũng đều trả thân xác người quá cố về cho đất, nước, lửa, gió. Hiện nay, theo xu hướng chung và để hạn chế lo lắng khi chuẩn bị cát táng, để bảo vệ môi trường,… thì đúng thiêu sẽ có ý nghĩa hơn. Đồng thời di cốt là tro hay xương cũng không đưa về nhà ở (kể cả Từ đường) thờ phụng mà cần thổ táng hết hay đưa lên Chùa hoặc Nhà thờ lưu gửi.

Chúng ta ai nấy đều tôn trọng, kính quý và thương nhớ tiền nhân. Sau khi bố mẹ, ông bà,…qua đời, thực hiện nghi thức nào, ra sao là tùy gia cảnh, lệ tục dòng tọc, địa phương,… nhưng cốt yếu ở chính cái tâm của mình. Nếu làm tốt, thuận cả nhiều đường, nhiều người đều là cách chia sẻ, giúp đỡ tốt cho những cuộc ra đi của người mất và để cuộc đời người còn sống được ấm lòng, hanh thông mọi nhẽ.

Quyết định ra sao, nhất là ở những gia đình đông anh em, ở nơi “chín người mười làng” không phải quyền của một người! “Bụng toàn gia cứ vững là yên”.

-Lương Đức Mến, ngày mưa dịp 20/10/2020-

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016