Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày đi mở đất. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày đi mở đất. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 11, 2021

LƯỢC SỬ 60 năm người Hải Phòng xây dựng Kinh tế-Văn hóa-An ninh-Quốc phòng tại tỉnh Lào Cai

Cuộc lên khai hoang tại Lào Cai của đồng bào Hải Phòng từ đầu những năm 1960 là sự tiếp nối truyền thống cha ông, học tập tiền nhân lên miền núi khai hoang những vùng “đất rộng người thưa” góp phần củng cố sức mạnh của miền biên ải, giãn dân nơi “đất chật, người đông”.

Sau khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, Ban CHTW (Khóa III) đã có Nghị quyết  Số 26-NQ/TW, tháng 7 năm 1961 “Về vấn đề phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”, chủ trương đưa đồng bào miền xuôi lên khai hoang miền núi. Cũng trong năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào miền xuôi đi xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá miền núi dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thường được biết dưới cái tên “KHAI HOANG”.

Công cuộc khai hoang miền núi đó được khởi động và diễn ra trong Bối cảnh mới, cần có những quyết sách mới sau khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh

Quán triệt chỉ đạo của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ  III, tháng 2/1961 xác định mục tiêu, nhiệm vụ khai thác tiềm năng nông nghiệp, lâm nghiệp trên địa bàn; chú trọng thu hút nhiều nhân lực mới từ miền xuôi lên, góp phần phân bố lại dân cư tại địa phương, hỗ trợ các tỉnh miền xuôi trong tổng thể nền kinh tế chung của miền Bắc trước tình hình mới.

Cũng trong thời gian đó, quán triệt các Nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ tỉnh Kiến An đã hướng tới vùng đất giầu tiềm năng đất đai, khoáng sản, tài nguyên nơi “đất rộng người thưa” là tỉnh Lào Cai.

Từ đó lãnh đạo 2 tỉnh đã có những chủ trương, kế hoạch, bước đi thích hợp. Cụ thể là:

- Ngày 28/4/1961 Tỉnh uỷ Kiến An ra Quyết nghị số 4/QNN/TU lập bộ phận “Nghiên cứu và xây dựng kế hoạch, tổ chức vận động nhân dân đi khai hoang ở tỉnh Lào Cai” đã xúc tiến nhiều việc trong đó có việc khắc phục khó khăn về giao thông, khảo sát thực tế tại Lào Cai.

Sau đó ngày 12/11/1961  Hội nghị Đại biểu BCH tỉnh Đảng bộ 2 tỉnh Kiến An (Bí thư Lê Huy là Trưởng đoàn)  Lào Cai (Bí thư kiêm Chủ tịch Hoàng Trường Minh là trưởng đoàn) đã ra Nghị quyết về việc kết nghĩa toàn diện giữa 2 tỉnh,  trong đó có việc vận động nhân dân Kiến An lên Lào Cai khai hoang nhằm “phối hợp điều hòa nhân lực và phát triển kinh tế giữa hai tỉnh” với 5 năm 1961-1965 vận động 8-9 vạn nhân dân Kiến An lên Lào Cai.

Lào Cai tiếp nhận người dân đến khai hoang từ nhiều tỉnh nhưng duy nhất có Nghị quyết giữa 2 tỉnh là giữa Lào Cai và Kiến An (nay là Hải Phòng)!

Sau khi Ban Bí thư nhất trí chủ trương, Quốc hội khóa II, tại kì họp thứ 5 ngày 27/10/1962 đã ra Nghị quyết hợp nhất Hải Phòng-Kiến An lấy tên là Hải Phòng. Đại hội Đảng bộ Hải Phòng lần thứ Nhất (10/7-14/7/1963) đề ra nhiều quyết sách, trong đó có việc tiếp tục đưa nhân dân Hải Phòng lên khai hoang tại Lào Cai.

Đây là cuộc vận động lớn, công tác chính trị tư tưởng được coi trọng và có nhiều cách làm mới có ý nghĩa cách mạng to lớn, đóng góp vào cuộc cách mạng tư tưởng - văn hoá, cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng KHKT. Do vậy, đã đem lại luồng sinh khí mới cho cuộc vận động dãn dân ở các tỉnh miền xuôi và tinh thần xây dựng hậu phương lớn, đón nhận đồng bào lên xây dựng quê mới ở Lào Cai.

Việc tổ chức thực hiện đã đạt nhiều kết quả với bước đi phù hợp

Mở đầu, tháng 3/1961, hơn 500 cán bộ, đảng viên, lao động trẻ khoẻ là những người con ưu tú của các làn xã trong các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thuỵ, An Lão, An Dương, Đồ Sơn thuộc Kiến An có mặt trong đoàn khai hoang lên xây dựng Hợp tác xã tập trung Sơn Hải thuộc xã Sơn Hà (1965 tách ra thành 2 xã là Sơn Hà và Sơn Hải), huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai mà các Đội được thành lập lấy ngay tên huyện ở quê làm tên Đội.

Sau đoàn đầu tiên ấy, tỉnh Lào Cai tiếp nhận thêm trên 600 cán bộ, đảng viên, lao động chính, khoẻ mạnh của Hải Phòng lên xây dựng 2 hợp tác xã tập trung là An Trà (xã Sơn Hà), Tân Thành (xã Phố Lu) đều thuộc huyện Bảo Thắng. Tiếp theo đồng bào từ tỉnh Kiến An lên được lãnh đạo tỉnh Lào Cai cùng lãnh đạo các huyện Bảo Thắng, Mường Khương, Bát Xát đón tiếp tại Ga Phố Lu, Làng Giàng, Phố Mới đưa về các bản, xã.  Đến 1963 đã thành lập 25 HTX khai hoang độc lập và 22 hợp tác xã xen kẽ đồng bào khai hoang và đồng bào sở tại trong tổng số 410 HTX tại Lào Cai. Nhiều điển hình tiên tiến trong sản xuất xây dựng tại các HTX khai hoang như  An Trà, Sơn Hải, Giao Bình, Hoà Lạc, An Lạc (Bảo Thắng), An San, Quang Kim, Đông Thái (Bát Xát) Bản Sen (Mường Khương), Bản Mẹt, Bảo Tân (Bắc Hà), Đông Du, Đông Xá, Tân Khai (Sa Pa) được nhân ra diện rộng.

Do có chủ trương đúng, công tác tư tưởng làm tốt, việc tổ chức thực hiện  với bước đi phù hợp nên cuộc vận động đã đạt kết quả tốt đẹp

 Trong những năm 1960 đến 1974, người Hải Phòng lên Lào Cai tập trung chủ yếu ở Tằng Loỏng, Phú Nhuận, Phố Lu, Sơn Hà, Phong Niên, Xuân Quang, Trì Quang thuộc huyện Bảo Thắng, Cốc San, Quang Kim thuộc Bát Xát và Bảo Nhai của Bắc Hà. Nhiều địa danh mới với tên ghép ấm tình miền sơn cước và gợi nhớ về cố hương đã ra đời. Đó là: An Trà (Kiến An-Bản Trà), An Phong (An Lão-Phong Niên), Vĩnh Phong (Vĩnh Bảo-Phong Niên), Tân Phong (Tân Liên-Phong Niên)... ở Bảo Thắng; An Quang (Kiến An-Quang Kim) ở Bát Xát...

Trải qua những bước thăng trầm lịch sử, nhiều gia đình gốc Hải Phòng đã 2 – 3 đời sinh cơ lập nghiệp tại Lào Cai; nhiều người hay con em của họ trưởng thành được giao trọng trách trong các cấp chính quyền, trong các cơ quan, đơn vị; trong LLVT; nhiều doanh nhân, văn nghệ sĩ người Hải Phòng đã có đóng góp vào sự phát triển của Lào Cai.

Thế hệ hôm nay tự hào và được kế thừa bản lĩnh người Lào Cai được tạo dựng nên từ “hợp nguồn” xuôi - ngược trong vị thế mới.

Như vậy, hơn 10 năm, 18 vạn đồng bào miền xuôi (trong đó người Hải Phòng có 4 vạn) lên quê mới thành cư dân Lào Cai nhưng luôn gắn bó với quê cũ cả về tâm tư, tình làng xóm, dòng họm truyền thống lao động, yêu độc lập tự do, niềm tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương của Đảng và của lãnh đạo 2 tỉnh; nó đã góp phần làm thay đổi căn bản bộ mặt cả cố hương và tân quê, đặc biệt trong việc giữa vững bình yên ở 2 đầu: miền núi Tây Bắc và duyên hải Đông Bắc nước ta.

Nhìn lại chặng đường 60 năm qua có thể thấy những bài học kinh nghiệm mà tựu trung lại, có thể khái quát như sau:

- Tiếp nối truyền thống di dân từ miền xuôi lên miền núi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam để tăng cường sứ mạnh toàn diện cho biên ải.

- Phù hợp với Bối cảnh lịch sử và quan điểm của Đảng về miền núi những năm 1960 trong hoàn cảnh cả nước tiến hành đồng thời hai cuộc Cách mạng.

- Việc vận động đồng bào lên khai hoang miền núi những năm 1960 và chính sách đối với người đi của tỉnh Kiến An (sau là Hải Phòng) có nhiều sáng tạo.

- Việc tiếp nhận, sắp xếp dân cư đối với người dân khai hoang của các địa phương thuộc Lào Cai đã được chú trọng toàn diện, sát hợp.

- Được sự chỉ đạo đúng, sát của lãnh đạo hai tỉnh cả trên phương diện nhận thức tư tưởng, bước đi thích hợp, thống nhất, phối hợp hành động tốt.

Nó góp vào kinh nghiệm chung của bà con, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền cơ sở có đông đồng bào Hải Phòng trong việc thực hiện các cuộc vận động, góp phần phấn đấu sớm đưa Lào Cai ra khỏi diện tỉnh nghèo, quyết tâm xây dựng quê hương Lào Cai-Hải Phòng giàu mạnh, xứng đáng là nơi “phên dậu quốc gia” vùng Tây Bắc và Đông Bắc.

Những bài học kinh nghiệm bổ ích của cuộc vận động sẽ là sức mạnh nội lực ở từng cơ sở, địa phương và kết quả cuộc vận động còn góp kinh nghiệm, ý nghĩa lịch sử to lớn với sự phát triển KT-VH-XH-ANQP của 2 tỉnh, của cả nước!

Sự đóng góp về tài năng, trí tuệ và nghị lực của người Hải Phòng trên quê hương mới được lãnh đạo các cấp ở Lào Cai cũng như Hải Phòng ghi nhận. Công lao của bà con, ngoài những người được nhà nước, chính quyền các cấp ghi nhận bởi những Huân, Huy chương, Kỷ niệm chương, Bằng, Giấy khen còn hàng vạn người, đủ mọi tầng lớp, mọi nghề nghiệp, trình độ, những người bình dân “chân lấm tay bùn” đã âm thầm cống hiến đời mình cho tân quê, cho mối quan hệ đôi quê và cho đất nước.

Trong quá trình 60 năm ấy đã nêu bật vai trò, ảnh hưởng của người khai hoang và có 3-4 thế hệ gốc đất Cảng được sinh ra và lớn lên tại “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việ,  bà con tự tập hợp nhau lại báo cáo cấp có thẩm quyền và được tỉnh cho phép thành lập “Hội Đồng hương”. Những năm trước hoạt động lẻ tẻ, không thống nhất, không có mối liên hệ thường xuyên.

Khởi đầu từ 2007, đến nay Hội đồng hương Hải Phòng tại tỉnh Lào Cai đã qua 3 kỳ Đại hội. Sự ra đời của Hội đồng hương Hải Phòng đáp ứng được lòng mong mỏi của các thế hệ người Hải Phòng vẫn từng ngày gắn bó với Lào Cai.. Từ chỗ 1 vài cơ sở tự phát với mấy trăm hội viên, hiện nay Hội đã có 26 Hội cơ sở ở 26 xã phường trong 9 huyện, thị xã, thành phố với 2.430 hội viên. Đặc biệt, hôm 16/11/2021, BCH HĐHHP huyện Bảo Thắng sau nhiều hoạt động độc lập với gần 400 Hội viên đã có buổi giao lưu với Thường trực BCH HĐHHP tỉnh và thống nhất nhập chung về một mối là HĐHHP tỉnh Lào Cai.

Việc tổ chức các đoàn về thăm quê, đón các đoàn ở quê lên; khen thưởng các cháu học sinh giỏi, chúc thọ các cụ, thăm hỏi khi ốm đau, chia sẻ lúc hoạn nạn…là những nét nổi bật mà Hội Đồng hương Hải Phòng là một trong những Hội Đồng hương hoạt động thường xuyên, thiết thực có hiệu quả.

Chúng ta không thể quên nghĩa tình đồng hương khi bà con gặp nạn thiên tai ở Bắc Hà, Mường Khương, Bát Xát…hay khi gặp sự cố ở Bảo Thắng đều được Hội đến hỏi thăm mang theo những tình cảm và vật chất hỗ trợ phần nào. Đặc biệt việc Chúc thọ các cụ Cao niên, việc tặng quà các cháu có thành tích trong học tập, việc hỗ trợ các gia đình có công,…là những việc làm thắm đượm nghĩa tình mà đâu phải Hội Đồng hương nào của giữ được nếp thường xuyên!

Với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, Hội cũng là nơi mà bà con gửi gắm, thực thi nhiều hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”.

Cách đây 15 năm, việc Kỷ niệm 40 năm người Hải Phòng đi khai hoang tại Lào Cai được Sở Nông nghiệp phát triển Nông thôn thành Phố Hải Phòng tổ chức vào năm 2001, mặc dù quy mô khiêm tốn nhưng nó như là một sự mở đầu.

 Đáp ứng nguyện vọng của bà con, Lễ Kỷ niệm 50 năm người Hải Phòng đi xây dựng kinh tế- văn hóa-quốc phòng tại Lào Cai đã được tổ chức long trọng ngày 18/3/2012 tại Trung tâm Hội nghị thành phố khi đó là Hội trường lớn của tỉnh. Cách đây 5 năm, đúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 61 năm giải phóng quê hương đất Cảng, ngày 13/5/2016, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, hơn 700 đại biểu dự Kỷ niệm 55 năm người Hải Phòng đi xây dựng kinh tế- văn hóa-quốc phòng tại Lào Cai. Đó là kết quả của sự quan tâm, chỉ đạo, ủng hộ chí tình, có hiệu quả của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Lào Cai và thành phố Hải Phòng.

Từ lần Kỷ niệm 55 năm đến nay đã 5 năm. Thời gian ấy, Lào Cai có nhiều chuyển biến sâu sắc, và người Hải Phòng tự hào là có góp sức, góp công.

Đó cũng là 5 năm mà Hội đồng hương Hải Phòng phát triển sâu rộng, có nhiều hoạt động có ý nghĩa, thiết thực như giao lưu giữa các Hội Đồng hương trên mọi miền Tổ quốc, giao lưu với quê hương…

Trong đó đáng chú ý là việc Hải Phòng xây dựng Đơn nguyên lớp học 2 tầng trường Tiểu học số 2 xã Sơn Hà và nhà Sinh hoạt cộng đồng xã Sơn Hải (huyện Bảo Thắng) trị giá hơn 5 tỷ đồng bàn giao vào ngày 26/5/2018; Dịp tháng 4,5/2020 lãnh đạo huyện Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, Tiên Lãng, An Lão đã cử đoàn đại biểu do các đ/c Ủy viên BTV, Ủy viên BCH huyện ủy làm Trưởng đoàn cùng đại diện lãnh đạo một số ban ngành đã lên thăm và tặng quà là 42 tấn gạo cho những hộ gặp khó khăn là người Hải Phòng đang sinh sống, làm việc tại Lào Cai.

Đáp lại ân tình của quê hương, Hội Đồng hương Hải Phòng tỉnh đã tổ chức nhiều đợt về thăm những danh lam thắng cảnh, cơ sở kinh doanh, sản xuất giỏi của quê hương, đặc biệt đầu năm Canh Tý 2020, Lào Cai làm nòng cốt và vận động người Hải Phòng ở các tỉnh Lào Cai, Điện Biên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Yên Bái, Nam Định, tf Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội tham gia Tết trồng Cây tại thành phố Cảng Trung dũng. Kết quả đã trồng được 117 cây đặc trưng của mỗi tỉnh, trong đó có những cây thuộc loại quý hiếm: Sưa đỏ, Hoàng Đàn, Bồ Đề, Nghiến, Tre Làng ngà, Lát Hoa, Đào, Hoa Ban, Trúc tại Khu Di tích Bạch Đằng Giang. Một số Hội còn mang theo những hộp đựng đất lấy tại nơi có ý nghĩa, như: nơi người Hải Phòng đặt chân đầu tiên lên khai hoang, nơi Bác Hồ về nước sau bao năm bôn ba, Ải Chi Lăng, Bến Cảng Nhà Rồng, …  

Chúng ta ghi nhớ và tri ân những cán bộ, đảng viên, những nông dân, thanh niên hừng hực khí thế khai hoang ngày đó, người có công, có thành tích được thưởng Huân, Huy Chương, được các cấp khen thưởng và cả những người vì lý do nào đó chưa được khen. Chúng ta và mai sau không được phép lãng quên lớp người vỡ hoang, mở đất và cả những người đến sau góp phần xây dựng, chấn hưng thôn xóm. Truyền thống và hiện tại, cũ và mới chan hòa, đoàn kết xây dựng quê hương tươi sáng, mạnh giầu.

Hiện nay, như chúng ta đều biết giữa Hải Phòng và Lao Cai đạt được những kết quả bước đầu trong việc hợp tác phát triển kinh tế, đặc biệt là tuyến kinh tế hai hành lang, một vành đai. Bà con Hải Phòng tại Lào Cai là vừa là người thụ hưởng thành quả đó đồng thời còn là những thành viên tích cực thực hiện cơ sở cơ chế hợp tác của hai địa phương, tuân thủ  pháp luật, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và giúp đỡ bà con các dân tộc Lào Cai. Đó là cách thiết thực Hội chúng ta giáo dục hội viên thực hiện nghiêm túc chỉ thị của lãnh đạo thành phố Hải Phòng và tỉnh Lào Cai.

Kỷ niệm một Hoa giáp, ngày đồng bào Hải Phòng đi xây dựng Kinh tế-Văn hóa-Xã hội tại Lào Cai, đề nghị các đ/c lãnh đạo các cấp và bà con tập trung trí tuệ, sức lực, huy động mọi nguồn để dần biến việc kỷ niệm ngày này thực sự là ngày Hội của người Hải Phòng trên đất Lào Cai và mong rằng thế hệ con em chúng ta tiếp tục duy trì được ngày Kỷ niệm đầy ý nghĩa đó.

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

ĐI KHAI HOANG

Bút ký của Ngọc Dương
(2)

       Gia đình tôi là một trong mười hộ trong làng xung phong đi theo cuộc vận động. Mười hộ này được ghép thêm một hộ ở làng khác là mười một và thành lập một hợp tác xã nông nghiệp, lấy tên là hợp tác xã Tân Phong. Hợp tác xã do anh Nguyễn Văn Lời, anh họ tôi làm chủ nhiệm, anh Bùi Văn Kiêu làm phó chủ nhiệm. Tôi lúc ấy là người có “trình độ văn hoá cao”, những lớp 8/10, nên được cử làm kế toán, mặc dù tôi chẳng hiểu kế toán là gì. Trước khi Hợp tác xã lên đường, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm đã có chuyến đi tiền trạm để làm nhà cho bà con, khi mọi người lên là đã có sẵn nhà ở. Sau gần một tháng, chủ nhiệm và phó chủ nhiệm về thông báo: “Đã có nhà cửa tươm tất. Đất đai, rừng núi mênh mông. Chỉ sợ không có sức lao động thôi...”
       Sáng 25 tháng Tư năm 1965, mọi người lục tục gồng gánh, mang vác gia sản đi bộ khoảng gần một cây số đường làng để tập kết lên đầu cầu Lăng, ven con đường quốc lộ số 10. Nhà tôi tám người đi nhưng vẫn còn hai người ở lại. Đó là chị dâu tôi, được thày bu phân công ở lại để trông nom mảnh đất hương hoả. Lúc ấy, anh tôi đang làm công nhân xây dựng cầu đường sắt ở Thanh hoá. Người thứ hai là em Phùng. Hôm trước, tôi nghe thấy bu tôi nói với em: “Lần này đi Lào Cai, cháu tạm thời ở nhà với bà ngoại cháu, để hai bác và các anh đi trước xem đồng đất ở đó làm ăn ra sao đã, bây giờ mới đến, chân ướt chân ráo chắc là còn nhiều khó khăn lắm. Bao giờ ổn định, bác sẽ về đón cháu lên sau.” Sáng hôm ấy, cả chị dâu và em Phùng đều cùng cả nhà mang vác đồ đạc, hành lí. Trong lúc chờ xe ô tô của Ban tổ chức đến đón, tôi thấy mấy lần chị dâu tôi quay đi lau nước mắt. Còn Phùng, vốn có khuôn mặt bầu bĩnh, không mấy khi nở nụ cười thì giờ đây tôi thấy em có vẻ mặt càng u buồn. Tôi không thể ngờ được rằng, đó chính là buổi sáng cuối cùng thày bu và anh em chúng tôi vĩnh biệt Phùng! Sau khi gia đình tôi lên Lào Cai chỉ một thời gian ngắn, bu tôi chưa kịp thực hiện lời hứa về đón em, thì Phùng đi bộ đội và rồi “Đã hy sinh tại mặt trận phía Nam”, như tờ giấy báo tử có ghi vậy. Cho đến bây giờ, đã hơn bốn mươi năm, ngoài tờ giấy báo tử với tám chữ cô đọng ấy thì chẳng ai biết em hy sinh như thế nào, có phần mộ không, ở đâu?... Tất cả vẫn còn mịt mùng, im ắng!...
       Hai chiếc xe ca chở mười một hộ với sáu, bẩy mươi nhân khẩu ra ga Hải Phòng, rồi lên tàu hoả. Không phải mua vé, không phải lo gửi hành lí. Tất cả đã có người phục vụ chu đáo. Hành lí của nhà nào đã có tên nhà ấy viết ở ngoài, không sợ lẫn...Lần đầu tiên tôi biết thế nào là tàu hoả. Tôi cảm thấy tự hào, nghĩ là sau này mình có thể khoe với bạn bè là: “Tao đã từng biết cái tàu hoả nó như thế nào!”. Mọi người chen nhau ngồi vào ghế. Còn tôi, sau khi lên đến ga Hàng Cỏ (Hà Nội), chuyển sang tàu Lào Cai thì tôi đi quan sát hết các toa. Không thích nơi đông người, nên tôi lẻn xuống tận toa cuối cùng, một toa đen chở đầy gà, lợn, chó mèo. Tôi trèo lên cái gác hành lí đầy bụi than, thảnh thơi nằm đó một mình, ngẫm nghĩ những gì đã và sẽ xảy ra. Đầu óc cứ mung lung, mung lung. Đôi lúc tự hỏi: đây có phải  sự thật hay là một giấc mơ? Và tôi bỗng nhớ đến một đoạn trong bài thơ Lên miền Tây của Bùi Minh Quốc: Xe chạy nghiêng nghiêng trèo dốc núi/ Lên miền Tây vời vợi ngàn trùng/ Ôi miền Tây, ở dưới xuôi sao nghe nói lạ lùng/ mà lúc ra đi lửa trong lòng vẫn cháy/ Cái tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy/Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường...” Bài thơ đã ru tôi ngủ thiếp đi. Mãi đến chiều mới quay lại toa trên, nơi bà con trong làng ngồi. Họ nói chuyện vui vẻ lắm, không biết vì phấn khởi hay vì để cho quên đi nỗi luyến tiếc nơi chôn rau cắt rốn? Một ông ngó qua cửa sổ toa tàu thấy có biển hiệu “kéo còi” liền thông báo cho mọi người: “Bà con chú ý, đã đến ga Keo Cối!”. Nhiều người tưởng thật bảo nhau: “Ga này đỗ, ta phải xuống hút điếu thuốc lào”. Nhưng tàu vẫn chạy. Lát sau lại có người kêu lên: “Ô, đây lại có ga Keo Cối nữa!”...Thế là ai cũng vui như Tết. Một bác kể: “ Lúc chờ ở Ga Hải Phòng lâu quá, tôi sốt ruột định đi tìm lãnh đạo nhà ga để hỏi cho ra nhẽ. Đi loanh quanh mãi thì thấy một tấm biển đề hai chữ Phó ga. Tôi xông ngay vào...nhưng toàn thấy người đang ăn...phở gà!
       Sau hai ngày, một đêm đằng đẵng, cũng đến lúc con tàu phải dừng hẳn lại ở ga cuối cùng là ga Lào cai. Vị trí nhà ga lúc ấy ở khoảng giữa đầu cầu Hồ Kiều và Cầu chui hiện nay, cửa ga nhìn ra khu thương mại Bistit cạnh con đường Nguyễn Huệ bây giờ. Trời bắt đầu tối. Những bóng đèn dây tóc đỏ quạch có chao bằng sắt tráng men treo trên cột điện cũng chỉ đủ soi cho mọi người khuân vác đồ đạc, hành lí sang khu vực Phố Tèo, nơi có những gia đình người Hoa sống lâu đời ở đây, mở quán ăn, cho thuê ngủ trọ và tràn ngựa. Mọi người ăn uống xong, leo lên cái nhà sàn bằng gỗ, cầu thang gỗ, xung quanh vây bằng liếp nứa. Một dãy sàn chạy dọc nhà lót giát tre bương là giường ngủ. Mọi người mắc màn và nằm ngủ “hội đồng” trên đó. Đã cuối tháng Tư dương lịch, nhưng thời tiết Lào Cai về ban đêm vẫn se lạnh. Mọi người đi tàu mệt nên ngủ rất say. Còn tôi thì không ngủ được, bởi hàng loạt điều mới lạ đang tác động vào bộ não của một gã trai bước vào tuổi mười bẩy, lần đầu tiên đi xa. Đêm thị xã Lào Cai sao mà tĩnh lặng, như thể một vùng quê hẻo lánh. Mùi hoa ngọc lan thoang thoảng đâu đây lẫn với mùi phân ngựa ngai ngái bốc lên từ dưới gầm sàn. Những con đom đóm từ bờ sông Nậm Thi bay lên, lạc vào ngôi nhà sàn, soi vào tận những cái màn ám khói, nơi có thày, bu, các em tôi và mọi người đang say giấc...
       Sáng hôm sau, tất cả đều được ăn món “phở” xào sền sệt, rất nhiều mỡ và tương ớt, có lẫn cả những sợi mì được rán phồng rất giòn. Ngon lắm! Ở quê tôi, dám chắc chưa ai được ăn bao giờ... Người chủ quán Hoa Kiều nói giọng lơ lớ, giải thích: “Cây nề là cốn suẩy, khô.. ông phẩy phơ đâu ớ”. Ông cán bộ dẫn đoàn dịch cho mọi người: “Đây không phải phở mà là cuốn sủi, một món ăn sáng của người Tàu đấy”
       Khoảng 7 giờ, có hai chiếc xe ca đến để đưa mọi người về quê hương mới. Đó là thôn Cốc Tủm, xã Phong Niên, thuộc huyện Bảo Thắng. Con đường quốc lộ 70 bấy giờ còn nguyên nền đất, toàn ổ gà, sống trâu. Hai cái xe ì ạch, vừa đi vừa thở phì phò, gầm gừ, lắc lư như những gã say rượu. Có nhiều chỗ xe phải né tránh những ngọn giang từ trên đồi vắt xuống đường. Khoảng ba tiếng sau, đi được ba mươi hai cây số thì dừng lại. Ông chủ nhiệm hô to: “Đây rồi, nhà đây rồi!...” Mọi người xuống xe, nhìn trước, nhìn sau chưa thấy nhà đâu, còn đang ngơ ngác thì chủ nhiệm lại quát: “Không thấy à?” Theo hướng tay chỉ của chủ nhiệm lên rệ đồi: Một dẫy lán thấp lè tè, trông như những cái lều nương của đồng bào dân tộc. Nhà tôi tám người, nhà ông, bà Phú bẩy người được phân phối chung một “ngôi nhà” rộng chừng 3 mét, dài 10 mét, được ngăn làm đôi bằng một tấm nứa đan nóng mốt. Và cũng rất công bằng là một nửa già, một nửa non vì số khẩu không bằng nhau. Những ba mươi mét vuông cho hai hộ, mười lăm người. Tuy vậy, chất lượng thì phải chỉnh sửa ngay mới ở được. Những tấm nứa non đan nóng mốt vây quanh nhà sau khoảng một tháng, nay đã khô và teo tóp lại, hở hoác ra. Trên mái lợp bằng lá dong tươi, loại lá gói bánh chưng, nhưng  rất “tiết kiệm” nên bây giờ khi nó khô cong đã để lộ ra những mảng trời xanh thẳm. Hai phần ba bề rộng của ngôi nhà phía trong, khoảng hai mét, làm giường ngủ. Đó là cái giường gỗ nứa. Nghĩa là những cây gỗ bằng bắp tay, cẳng chân, có ngoãm, còn tươi nguyên, không bóc vỏ, được chôn xuống đất làm chân, nên mối đã leo lên tua tủa như lông nhím. Những đoạn gỗ thẳng thì gác lên làm xà, được thống cố vào “chân giường” bằng những nút lạt giang khá chắc. Giát giường là nứa tươi non đập dập, đến hôm đó đã gần một tháng, nên vừa cong, vừa mọt, tuy vậy rải chiếu lên vẫn nằm tạm được. Một phần ba diện tích phía ngoài nhà giành để đồ đạc và lấy chỗ ra vào. Bọn trẻ thì đi lại vô tư, nhưng người lớn phải cúi xuống, nếu vô ý, có thể va đầu vào mái... dong. Xung quanh nhà, cỏ mọc xanh um, những dây bìm bìm đã leo vào tận chân vách...
       Những con dao, cái cuốc mang từ dưới quê lên bây giờ được phát huy ngay tác dụng. Tất cả phải tập trung cho việc ổn định tạm thời nơi ăn, chốn ngủ đã, rồi sau muốn ra sao thì ra. Thày tôi mở cái vại sành lấy gạo cho bu tôi xuống suối vo để nấu bữa cơm đầu tiên trên quê hương mới. Nhà nào cũng bắc tạm ba hòn đá ở ngoài trời để đun nấu. Chỉ sướng cái sẵn củi đun, ra khỏi nhà vài bước là có đầy thứ để cho vào bếp, không như ở dưới xuôi, anh em tôi phải vác cuốc đi giẫy cỏ gà, đập sạch đất, phơi khô làm đồ đun. Thức ăn thì ai cũng có cá khô, vừng, lạc, mắm, muối mang theo đủ sinh hoạt...
        Đêm hôm ấy, bên ngọn đèn dầu vàng quạch, người ta xúm lại bên nhau trò chuyện đến mãi khuya. Ngoài trời, từng đàn đom đóm chập chờn như ma trơi. Trong rừng, thỉnh thoảng có tiếng con nai tác lúc xa, lúc gần như tiếng rao của chị bán hàng rong. Xung quanh nơi ở mới của mấy chục con người, tiếng dế cứ rít lên từng đợt, từng đợt não nùng, tê tái. Có người đã tỏ ý muốn quay về. Nhưng thày tôi thì bảo: “Đã ra đi, cấm kì giở lại!”...

(Còn nữa)

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

"Nghe rừng lắm đất lên đây với rừng"

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960), ngày 12/11/1961 Hội nghị đại biểu BCH tỉnh Đảng bộ 2 tỉnh Kiến AnLào Cai đã ra Nghị quyết về việc kết nghĩa toàn diện giữa 2 tỉnh, trong đó có việc “phối hợp điều hòa nhân lực và phát triển kinh tế giữa hai tỉnh” với 5 năm (1961-1965) vận động 8-9 vạn nhân dân Kiến An lên Lào Cai[1]. Chủ trương này của Đảng và của 2 tỉnh được nhân dân hưởng ứng và một số gia đình họ Lương gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng đã lên lập nghiệp, mở ra phái Lương Đức Lào Cai ngày nay.
Đầu những năm 1960, trong những năm đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ Nhất, Chiến Thắng chủ yếu khai hoang nội xã tại Kim Côn[2], chưa có hộ nào lên Lào Cai, kể cả đợt dân An Lão đi nhiều trong năm 1962. Người dân Chiến Thắng (trong đó có con cháu Lương tộc) rời quê lên Lào cai đợt đầu là vào tháng 02/1964. Sau này, nhiều người con của Lương tộc đã lên từng đợt rải rác đi tự do trong các năm 1967, 1971. Các hộ này tập trung chủ yếu ở các xã Phong Niên, Xuân Quang, Trì Quang, Phố Lu, Sơn Hải thuộc huyện Bảo Thắng.
Trong đợt tháng 02/1964, sau khi khảo sát, thành uỷ Hải Phòng[3] đã lấy 19 hộ, 99 khẩu thuộc 3 xã của An Lão lên Phong Niên, Bảo Thắng, Lào Cai khai hoang lập ra HTX An Phong. Trong đó xã Chiến Thắng (đều ở làng Hương tức thôn Phương Lạp[4]) có 9 hộ, là: Lương Đức Duẩn (8 khẩu), Lương Đức Thông (6 khẩu), Lương Đức Thân (7 khẩu), Lương Đức Rật (Dật, 8 khẩu), Lương Đức Thiếp (7 khẩu); họ Đặng Văn Nhỡ (7 khẩu, Đặng Văn Thoả (5 khẩu), Đặng Thị Nguyên (3 khẩu), Nguyễn Văn Ngà (5 khẩu). An Thái có 5 gia đình, một số hộ độc thân (Ơn, Mậm,Dâng, Ngần) thành 23 khẩu. Mỹ Đức có 5 gia đình gồm 20 khẩu. Trong các gia đình từ làng Hương ra đi có 2 cặp anh em ruột là Thân-Dật, Nhỡ-Thỏa đồng thời đây cũng là những con cô con cậu. Gia đình mẹ con Đặng Thị Nguyên, gia đình Lương Đức Thiếp thì họ cả 2 bên! .
Từ trước Tết Giáp Thìn, mọi công việc đã chuẩn bị xong: lãnh đạo HTX trên quê mới được đặt là “AN PHONG”[5]; Đặng Văn Nhỡ được chỉ định là Phó Chủ nhiệm, Lương Đức Thân là Kế toán; đất ruộng trả lại Hợp tác; vườn, nhà và đất ở các gia đình nhượng lại cho anh em trong họ. Sau Tết một số thanh niên (Lương Đức Hỗ, Lương Đức An, Đặng Thị Cầm, Nguyễn Thị Chuốt) đã lên trước để phát đường, dựng lán.
Ngày 16 tháng Giêng, tức thứ Sáu 28/02/1964, Ban Khai hoang Thành phố đưa ô tô về Quán Hương đón các hộ ở Chiến Thắng. Các gia đình ra đi vào  mang theo toàn bộ gia sản vốn chẳng nhiều nhặn gì. Người trong họ, ngoài làng tiễn đưa rất đông. Từ Hải Phòng lên Hà Nội thay đầu máy rồi lên ga Lào Cai. Trên tầu các gia đình được xếp chung một toa và không phải chuyển tầu. Tới ga Phố Lu, hộ Lương Đức Thiếp xuống ga và theo đường bộ vào Bắc Ngầm để xuống Thái Vo thuộc xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng
Các gia đình còn lại theo tầu tới chiều tối 01/3 đến ga Lào Cai[6]. Tất cả được đưa về nghỉ tại Nhà trọ bên Phố Tèo[7], gần ngay đầu cầu Kiều. Tiếng là phố nhưng nền, tường nhà đều bằng đất, có sàn lửng làm tầng để ngủ. Đây là phố cổ, nằm dọc biên giới ở bờ Đông-Nam sông Nậm Thi và hồi ấy đa số là người Hoa làm ăn, sinh sống. Cầu Kiều[8] bắc qua sông Nậm Thi sang Trung Quốc ở gần Đồn Biên phòng và cạnh nhà Trọ, phía đầu cầu bên ta có câu Thơ của Hồ Chí Minh viết rất to trên tường: “Mối tình Hữu nghị Việt –Hoa, Vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Phía đối diện là thị trấn Hà Khẩu 河口 thuộc tỉnh Vân Nam 云南 nước bạn.
Sau này, tôi được biết, lịch sử đã chứng tỏ rằng sự ảnh hưởng 2 mặt của vùng đất Nam Chiếu, Điền, Đại Lý xưa hay Vân Nam sau này với Lào Cai là rất lớn. Tx Lào Cai là nơi Nậm Thi giao lưu với Hồng Hà. Cầu Cốc Lếu (gốc cây Gạo) nối 2 bờ sông Hồng ngày ấy còn là cầu treo[9] đã từng mang tên gợi một thời ai oán- cầu “Giời ơi”:
Ai đưa tối đến chốn này,
Bên kia Cốc Lếu, bên này Lào Cai.
Sau 2 ngày Ô tô tải của tỉnh đưa về Phong Niên theo QL 4 (đường 70 sau này)[10]. Đường đất, chỉ có 2 vệt bánh xe là nhẵn, còn giữa cỏ mọc, hai bên cây rừng phủ rợp bóng. Chiều, đến Km 37[11] số thanh niên tiền trạm và chính quyền địa phương ra đón. Các gia đình được chia ra ở tạm trong mấy gia đình họ Mồ, họ Vàng[12] người Nùng ở phía bên trái đường, lối vào cạnh cột mốc. Đây là địa bàn thôn Cốc Sâm. Các gia đình này đã được quán triệt, vận động trước và lại ở ngay cạnh được Quốc lộ nên cũng tiến bộ nhiều do đó đón tiếp đồng bào khai hoang  không e dè sợ bị chia đất, cai trị như một số nơi.
Các ngôi nhà người Nùng 2 mái lợp tranh, tường, nền đất không có cửa sổ nên rất tối nhưng nhà rộng, đủ chỗ chứa 2, 3 gia đình khai hoang. Cán bộ dặn kĩ người mới đến không được ngồi ở ngưỡng cửa quay lưng vào. Bàn thờ và trước cửa treo giấy đỏ viết chữ Nho. Quanh nhà trồng nhiều ổi, chuối mà chỉ thấy chuối lốp quả rất to. Không có ao và cũng chẳng thấy giếng. Nước ăn được đựng trong các ống bương có tay xách bằng cành hay buộc dây do phụ nữ lấy và vác từ suối về. Họ không dựng bếp riêng mà đun nấu ngay trong nhà, lúc nào bếp (kiềng bằng gang) cũng có cây củi to âm ỉ để giữ lửa. Lợn gà thả rông. Kể cả trâu cũng thả trên rừng, mỗi con đeo một chiếc mõ bằng gỗ hay tre ở cổ luôn khua lách cách theo bước đi hay các lắc đầu của trâu, tối về gia chủ cho ăn muối, sáng ra lại thả trên rừng, khác lạ là có cả trâu trắng. Khi bừa dùng trâu kéo bừa nằm 2 hàng răng bằng gỗ, người bừa đứng lên lấy sức nặng đè đất và chỉ huy trâu chứ không phải bừa đứng răng sắt như ở xuôi. Riêng ngựa được chăn và tối cho vào chuồng đóng dóng, ăn cỏ thái ngắn và ngô hạt, dao thái cỏ lớn hơn dao thái thuốc lào ở quê. Mỗi nhà có tới 5,7 trâu, 1-2 ngựa và rất nhiều chó. Ngựa chủ yếu dùng thồ hàng hay đi chợ. Lúa nương gặt về từ trong năm bó thành từng cum, xếp một ít trên gác, khi cần dùng ăn đưa xuống vò lấy thóc đem cối giã gạo bằng sức nước đầu xóm để giã[13]. Còn phần lớn các cum lúa đều để tại kho trên nương. Nương ở rất xa và đều có lán để nghỉ trưa và đôi khi cả ngủ đêm để canh nương và đỡ tốn công đi lại. Trong nương ngô trồng kèm cả bí đỏ, đu đủ; cạnh nương lúa có trồng mướp, đậu đũa (khác với giống cây ở xuôi).
Gạo nương dẻo, thơm, ăn với thức ăn khô rất ngon nhưng nếp nương không dẻo và thơm bằng nếp cái. Họ dùng lá rừng trộn với gạo nếp đồ xôi mầu trong chõ gỗ trông rất đẹp. Khi đi làm, đi săn, đi đâu người dân cũng kè kè con dao (kể cả phụ nữ) bên hông và khẩu súng. Súng là súng kíp, ban đêm họ buộc đèn ló trên trán để soi đường và rọi tìm thú. Có buổi săn được lợn rừng họ mời cả đồng bào khai hoang cùng ăn. Người Nùng theo chế độ phụ hệ, đàn ông là chủ, giao tiếp với bên ngoài, biết tiếng Kinh; phụ nữ làm mọi việc suốt ngày (làm nương, lấy củi, vác nước, nấu ăn…), chỉ ở nhà trong, ít giao tiếp, ít nói được tiếng Kinh, phần nhiều phải ra hiệu bằng tay.
Đám trẻ nhỏ mau quen với nhau, dạy tiếng và trao đổi nhau về các trò đánh gụ, đánh quay, đánh khăng, đánh đáo, chơi ô hay nướng sắn, nướng ngô, làm cơm lam và một số từ thông dụng. Đồng bào còn hướng dẫn người khai hoang đi ruốc cá. Người ta dùng đá, sỏi ngăn một đoạn suối, sau đó hái lá cơi giã nát và thả xuống suối, cá bị say, lờ đờ chỉ việc vợt và bắt đem chia nhau. Suối nhỏ và nông nên ở đây không có chài, lưới. Để đưa nước về ruộng và về nhà, người ta đắp phai ở suối để nước dâng cao, đào, xẻ mương dọc sườn đồi hay dùng tre, nứa đục thông đầu mặt để làm lần dẫn nước. Khi thu hoạch lúa, người ta dùng phên nứa, cót che xung quanh và đập và cái phang bằng gỗ lấy thóc, rơm đốt thành tro bón ruộng mà không thu để đun, cho trâu ăn như ở xuôi. Cả xã chỉ có 1 HTX mua bán ở Km 33 thuộc thôn Cốc Tủm, không chợ, không người bán hàng xén như ở xuôi. Do vậy cần bán đổi hay muốn mua sắm gì người dân lên Tx Lào Cai, ra Phố Lu hay vào Bảo Nhai. Trai đi ngựa, phụ nữ ít đi và nếu có chỉ là đi bộ.
Một tuần sau, khi lều lán mà số thanh niên (An, Nhật, Cầm, Reo, Chuốt...) lên trước dựng xong, các gia đình bồng bế nhau qua một tràn ruộng, lội qua một con suối, vượt một quả đồi mọc đầy chuối rừng, nứa, cây, dây cỏ dại vào La Cà Bốn[14]
Tạm yên chỗ, Lương Đức Thông có viết thư về chuyến đi gửi về quê cho họ mạc : 
Đường đi trăm núi, nghìn trùng,
Bốn trăm cây số tới vùng Lào Cai.
Huyện Bảo thắng vừa dài, vừa rộng,
Xã Phong niên dằng dặc núi rừng
Đến La Cà Bốn lập vùng khai hoang[15]...
Cuộc sống trên quê mới của những người thuộc Lương tộc và các gia đình trên đất An Phong bắt đầu.
Cuộc ly hương này giống tiền nhân ở chỗ đều là những người kiên gan, đi tìm đất mới vì sinh kế. Nhưng khác với cuộc đi mở cõi về phía Nam của người dân Trung-Bắc hồi thế kỉ XVI-XVIII và của Tổ Lương tộc đến Cao Mật hồi thế kỉ XVIII là những cuộc di dân phần lớn tự do, dân đến lập ấp, lập làng rồi nhà nước mới quản lý. Còn cuộc khai hoang của người dân An Phong là vì sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa miền núi do Nhà nước chỉ đạo, có kế hoạch và tên làng do lãnh đạo định từ quê gốc, có từ khi họ chưa đặt chân đến vùng đất mới.
-Lương Đức Mến, thế hệ thứ Hai trên Tân quê-

[1] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lào Cai 1954-1975. 
[2] Đây là một thôn năm ở Tây Bắc xã, giáp với Tân Viên qua sông Đa Độ. Sau ngày đình chiến 1954, nhiều hộ dân, nhất là những người theo công giáo ở thôn này đã di cư vào Nam, bỏ đất hoang khá nhiều.
[3] Việc hợp nhất Hải Phòng- Kiến An thành thành phố Hải Phòng được thực hiện bởi Nghị quyết tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II họp ngày 27/10/1962.
[4] Năm 1966 nhập với Mông Tràng Hạ thành Phương Hạ.
[5] Tên ghép chỉ người AN Lão lên khai hoang ở PHONG Niên.
[6]  Ga cũ,  sau 1995 nơi đây thành bãi kiểm hoá Cửa khẩu. Thực ra từ "Lào Cai" chẳng có ý nghĩa gì, đó chẳng qua là những chữ được dịch qua, dịch lại khi người phương Tây đến cai trị đã latin hóa tên Hán Việt: từ xưa nơi đây đã có chợ, có phố, có đường nên khi người Hán sang gọi là "Phố cũ" (老 街) mà theo âm Hán-Việt là "Lão Nhai",. Người Pháp đến, do không phát âm được các thanh có dấu nên ghi  thành Lao Kay, sau này thời dân chủ ghi là Lao Cai. Sau này chính thức mang tên Lào Cai.
[7] Nay là phố Phạn Bội Châu, nơi có Đền Thượng thờ Trần Hưng Đạo  nổi tiếng.
[8] Cây cầu này đường bộ, đường sắt đi chung, xây từ 28/3/1898, bị phá trong CT 2/1979 đến năm 1993 mới khôi phục  ( dịp khơi thông mở lại Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai ngày 18/5/1993).
[9] Đến 1966 mới xây cầu vĩnh viễn và bị phá 2/1979. Sau xây lại, khánh thành ngày 01/5/1995
[10] Đoạn Tx Lào Cai đến Km 9 bị bỏ từ 2/1979 đến 1993.
[11] Khi đường QL4 được TQ giúp nâng cấp, nắn lại năm 1966 thì đó là Km 36.
[12] Có gia đình trở về TQ trong CMVH năm 1966.
[13] Chiếc cối và khu rừng đặt cối sát cạnh phía bên phải đường đã bị mất hết dấu tích từ 1980, Từ 2004 là khu vực dừng chân của Công ty xây dựng Trạm Thủy điện Cốc Ly. 
[14] Đúng ra tên địa phương nơi  đây  là Na Cà Lao Bổn - tức khu ruộng nhiều cây bon,  song do các cụ ta nói “ngọng” giống như số đông người đồng bằng nên viết thành La Cà Bốn !. Từ QL4 ( Km 36+200) vào có lối mòn qua 01 cối giã gạo nước, lội suối và vượt qua một đồi quả cây cối,  chuối rừng mọc um tùm. Con đường này,  qua mấy lần chuyển dịch,  từ sau năm 1979 đã bỏ. Con đường vào thôn hiện nay  mới mở năm 1980, nâng cấp để ô tô vào được năm 2005, hoàn thành Xuân Bính Tuất 2006.
[15] Hồi đó tôi còn nhỏ, mới học dở lớp 2 vẫn được bác đọc cho chép. Nay chỉ nhớ được có thế.