Hiển thị các bài đăng có nhãn Đạo hiếu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đạo hiếu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2023

Đám tang Hội viên

Bài thơ và giọng đọc của bác @Dh1 Hường Kt  rất xúc động, tình cảm, Clip do bác @Bùi Khắp  quay tại đám tang bác Vũ Xuân Thái (SN 1944, Quê quán Liêm Am, Vĩnh Bảo lên LC năm 1962; Chỗ ở hiện nay: Xuân Giao - Bảo Thắng; UVBCH hội ĐHHP khoá III ;  CT hội ĐHHP xã Xuân Giao) ngày 9/2/2023 (tức 19/Giêng/Quý Mão khá chi tiết.

Tôi xin tải về và đưa lên đây để mọi người biết và cùng lan tỏa



Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

Nghĩ về HỎA TÁNG VÀ CÁI NÓNG

Khi mẫu thân ngày một cao tuổi, dù muốn hay không anh em tôi vẫn phải nghĩ đến việc lo “hậu sự” cho bà. Cũng vì thế mà tôi hay được hầu chuyện các cụ cao niên trong xóm, ở quê với nỗi lo: khi chết con cháu nó đưa đi “thui”.

Một số lão nông già, ít chữ, ít giao tiếp với xã hội gọi “hỏa táng” là “thui” và cho rằng như vậy mình sẽ bị “nóng”, người thân,  con cháu còn lại thì “thương người thân” chả dám “đốt”! Điều này do người nọ rỉ tai người kia và “chưa ai chết được hỏa táng rồi lại trở về” mà tả được cảm giác đó nên chả ngã ngũ gì. Nhưng chả lẽ không có lời giải về khoa học cũng như tâm linh?

1.            TỨ TÁNG:

Trước khi tìm hiểu về vấn đề này, thiết nghĩ cũng nên ôn lại một số khái niệm liên quan. Những khái niệm này bản thân đã tìm hiểu, có chép lại, lý giải thêm và từng đưa lên trang nhà. Nay không cần nhắc lại.

Ở đây chỉ nhấn thêm vài điểm: Táng là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết; Phần mộ cá nhân là nơi táng thi hài, hài cốt của người chết; Mai táng là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết ở một địa điểm dưới mặt đất; Chôn cất một lần là hình thức mai táng thi hài vĩnh viễn; Hung táng là hình thức mai táng thi hài trong một khoảng thời gian nhất định sau đó sẽ được cải táng; Cải táng là việc chuyển xương cốt từ mộ hung táng sang hình thức táng khác; Nghĩa trang là nơi táng người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau và được quản lý, xây dựng theo quy hoạch.

Mặt khác, việc xử lý thi xác sau chết thường được tiến hành dưới 4 hình thức gọi là Tứ táng  (H: 四喪 , A: The four manners of treatment with the dead body, P: Les quatre manières de traiter un cadavre), gồm: 

-  Thổ táng 土喪: chôn xác người chết xuống đất, thường thấy ở Việt Nam, Trung Hoa và một số vùng bởi niềm tin: “Chúng sanh tất tử, tử tất quy thổ, thử chi vị quỷ. Cốt nhục tễ vu hạ, âm vi dã thổ, kỳ khí phát dương vu thượng vi chiêu minh” (眾生必死,死必歸土,此之謂鬼. 骨肉斃於下,陰為野土;其氣發揚於上,為昭明), nghĩa là: con người ai cũng phải chết, chết tất trở về đất, xương thịt xuống thấp tan biến vào trong đất, còn khí dương bay lên cao trong sáng rực rỡ. Hình thức này vốn phổ biến ở ta và ngày một chiếm nhiều đất hơn.

- Hỏa táng 火喪: (hay được gọi không trọn nghĩa là hỏa thiêu hay thiêu) là hình thức an táng người chết bằng cách đem xác người chết thiêu ở nhiệt độ cao cho cháy sạch phần hữu cơ rồi thu lấy tro hay các xương bỏ vào hũ nhỏ đặt lên bàn thờ hay cho vào tiểu sành chôn xuống đất như Cát táng. Tục lệ nầy thường thấy ở Ấn Độ và ở những nước có đông đảo tín đồ Phật giáo.

- Thủy táng 水喪: đem xác người chết bỏ giữa biển khơi, để  cho các loài cá ăn thịt, nên cũng gọi cách nầy là Ngư táng (chôn vào bụng cá). Tục lệ nầy thường thấy ở lực lượng Hải quân và những bộ lạc sống trên các hòn đảo nhỏ giữa Thái Bình Dương.

- Điểu táng 鳥喪: Xác người chết được chặt thành nhiều mảnh nhỏ, đem đặt xác trên đỉnh núi, treo trên ngọn cây để các loài chim như: kền kền, quạ,... ăn thịt. Tục lệ nầy ở xứ Tây Tạng, vì xứ nầy toàn là núi đá, lại bị tuyết phủ quanh năm nên ít có cây cối để làm củi đốt. Hơn nữa Phật giáo tại đây cho rằng sau khi chết, xác người chỉ là một cái vỏ rỗng không, có thể cho thú vật làm thức ăn.

- Ngoài ra, một số nơi có tục lệ đem xác người chết bỏ vào rừng sâu để cho các loài thú dữ đến ăn thịt gọi là lâm táng 林喪. Ở một số nền văn hóa khác, người ta lại cố gắng làm chậm quá trình phân hủy của xác trước tang lễ (thậm chí có thể làm chậm quá trình phân hủy sau khi chôn cất), ướp xác hoặc tạo các mô mi. Một cách mai táng mới là “mai táng sinh thái”. Nó bao gồm sự làm đông xác ở nhiệt độ rất thấp, sau đó tán thành bột bằng cơ chế rung, làm khô ở nhiệt độ lạnh, loại bỏ kim loại, sau cùng là thiêu hủy thành phần bột còn lại, chỉ chiếm khoảng 30% khối lượng cơ thể. Gần đây còn có ý tưởng về “vũ trụ táng”: dùng tên lửa đưa một phần tro cốt vào không gian.

Bên cạnh đó, nhiều người đã hiến toàn bộ hoặc một phần xác cho khoa học (nổi tiếng nhất là Einstein) để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy môn giải phẫu. Tại Việt Nam, từ năm 1996, phong trào hiến xác cho khoa học đã bắt đầu phát triển với sự phát động của Giáo sư Nguyễn Quang Quyền ở trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.

2.            TÌM HIỂU VỀ HỎA TÁNG

Đối với những người đương đại trên đất Việt thì hỏa táng là “mới” nhưng thực ra, lịch sử ghi nhận rằng  trên thế giới và ngay cả ở Đại Việt thì việc này có từ lâu đời rồi.

Đối với dân tộc Việt (người Kinh) thì việc hỏa táng xuất hiện sớm nhất khoảng đầu Công nguyên, cùng niên đại với việc du nhập của đạo Phật. Những năm 1960 khi chúng tôi từ Hải Phòng lên Lào Cai vẫn thấy những khu rừng mà dấu vết cây cháy còn rõ, dân bản địa nói đó là nơi thiêu một ai đó. Ngay xóm tôi ở từ 2/1964 thì đầu xóm là “rừng hủi”, tức cánh rừng “già” nhất khu, là nơi từng “đốt” xác một người trong vùng; cuối xóm là “lọ lu” là ngôi mộ che bán mái được lợp bằng thân cây nứa chẻ đôi  mà người Dao bản địa nói trong đó chứa tro cốt.

Hiện nay, theo một số tài liệu thì tàn dư của tục hỏa táng (bằng củi) có thể tìm thấy trong dân tộc Thái ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An và Lai Châu và tục hỏa táng còn khá thịnh hành ở người Thái đen.

Do hỏa thiêu thực hiện bằng cách “đốt” thi xác ở nhiệt độ cao nên theo sự tiến bộ của công nghệ mà việc hỏa táng từ nhiệt được cung cấp bằng củi, tiến lên bằng điện, rồi gas tự nhiên, dầu, khí propane,…

Ngày nay, việc hỏa thiêu được tiến hành ban đầu tại Cơ sở hỏa táng. Đó là cơ sở vật chất bao gồm lò hỏa táng và các công trình phụ trợ khác (khu văn phòng, khu kỹ thuật, khu lưu trữ tro cốt, nhà tang lễ, các công trình hạ tầng kỹ thuật). Trong đó, bộ phận cốt lõi ban đầu là Lò hỏa táng, nơi tiến hành trực tiếp việc thiêu xác.

Ở Việt Nam hiện nay, các lò hỏa táng (buồng đốt) đều được nhập từ nước ngoài, với công nghệ cao, tự động, vận hành nhanh chóng và chính xác.

Trong quá trình thiêu, nhiệt độ trong lò có thể lên tới hơn 1.000 độ C và sức nóng này đủ để thiêu hết toàn bộ phần hữu cơ của thi xác và vật dụng đi kèm. Mức nhiệt độ này được đặt và khởi động từ trước và việc đưa xác người đã chết vào cần nhanh chóng để tránh bị mất nhiệt. Tùy theo yêu cầu sau hỏa thiêu, gia đình muốn nhận lại Tro – Cốt mảnh xương hay Cốt nguyên xương mà người ta đặt quy trình và mức nhiệt thiêu khác nhau. Thực ra, tro cốt người quá cố không bao giờ “còn nguyên xương” bởi nhiệt cao mà còn lại ít tùy thuộc vào cơ địa của người mất. Nên chớ mắc “cò mồi” mà bị lừa!

Đúng ra, Hoả táng không cần đến quan tài như cách chôn truyền thống ở ta. Nhưng để đảm bảo tính nghiêm trang của tang ma, tôn trọng đối với người đã mất cũng như đảm bảo vệ sinh với người sống nên người chết vẫn được Khâm liệm, Nhập quan bình thường. Tất nhiên phải là quan tài bằng gỗ dễ cháy, chả cần gỗ tốt, quý, như Dổi, Vàng tâm, Pơ mu,…Chiếc quan tài đó sẽ được đốt cháy trước tiên trong quá trình hoả thiêu.

Chú ý rằng Hoả táng là thiêu cháy hết toàn bộ thi xác nên trước khi thực hiện nó thì phải được kết luận rõ nguyên nhân gây tử vong và về mặt pháp lý phải có Giấy Khai tử của cấp có thẩm quyền (UBND cấp  xã). Đồng thời, các thiết bị cơ khí y khoa như van tim, máy hỗ trợ nhịp tim, tai nghe điện tử,… hay đồ trang sức như nhẫn, vòng, khuyên tai,… và các loại tương tự khác phải loại bỏ trước khi thiêu vì chúng có thể phát nổ do gặp nhiệt độ cao, gây hỏng hóc các thiết bị hỏa táng và gây nguy hiểm cho các kỹ thuật viên.

Hiện nay, ở Hoa kỳ, người ta còn hỏa táng không dùng lửa gọi là “hỏa táng xanh”. Khi đó, người ta dùng nước, kali hydroxit và nhiệt độ làm phân rã thi thể người quá cố bên trong một buồng thép kín. Việc này không chỉ thân thiện với môi trường mà còn cần ít thời gian hơn.

Quy trình hỏa thiêu: quan tài có chứa thi xác đưa vào buồng đốt thì quan tài đó sẽ bị thiêu hoàn tòan trước. Sau đó, da và tóc bị cháy, các cơ bắp teo lại và cháy thành than, các mô mềm bốc hơi, xương nhanh chóng bị vôi hóa. Các khí giải phóng ra trong quá trình này được thải ra ngoài qua một hệ thống ống xả nên bên ngoài không thấy mùi gì, có chăng sẽ chỉ có thấy mùi gas đốt.

Nếu gia đình hiếu chủ cần nhận lại tro (những hạt mịn) thì có khi sẽ hỏa táng hai lần hoặc các kỹ thuật viên dùng một cây gậy dài để làm vụn hay các mảnh xương được tán thành bột bằng máy chuyên dụng. Khi thi xác chỉ còn lại tro các kỹ thuật viên sẽ thu hết lại cho vào một khay và để nguội.

Tất nhiên một lượng nhỏ xương có thể vẫn còn trong buồng đốt và bị trộn lẫn với các vụn của các xác thiêu sau này. Hoặc trong số tro cốt đó có thể lẫn cả vật vô cơ chưa hóa lỏng như đinh vít, bản lề,… của quan tài, răng giả, răng vàng, vít phẫu thuật, nẹp xương, chân tay giả, đồ trang sức…của người quá cố hoặc đồ tùy táng không cháy được như: kim loại, sành sứ,…. Tất cả nhừng “dị vật” đó sẽ được loại bỏ ra khỏi tro xác nhờ nam châm hoặc tìm nhặt của kỹ thuật viên.

Tro, mảnh xương hay xương sẽ được kỹ thuật viên xếp, đặt cẩn trọng vào lọ, tiểu giống như khi bốc mộ,…bọc gói cẩn thận rồi giao cho gia đình.

3.            HẬU HỎA THIÊU:

Tro cốt sau hỏa thiêu sẽ được thu gom đựng trong lọ hay đặt trong tiểu. Lọ hay tiểu sành này có thể được lưu trong kho Đài hỏa táng hoặc trao cho gia đình hiếu chủ về mai táng, hay đặt tại Chùa, Nhà thờ, hoặc thờ tại gia trang.

Chú ý nếu hạ thổ mà khi thiêu lấy xương đựng trong tiểu thì mai táng như thông thường còn nếu lấy tro đựng trong lọ thì phải đặt đứng lọ tro cốt trong tiểu chứ không đặt nằm ngang. Những việc làm này sẽ giúp cho phần tro cốt được yên lành, con cháu mới không gặp những điều ngang trái, tai họa.

Nhớ lại, cổ nhân cho rằng: phần tro cốt còn lại chỉ là biểu tượng của người qua đời, là người thân mà ta thương yêu còn chính “người” đó đã chết, phải về với cõi âm nên không nên đem tro cốt về nhà thờ cúng. Bởi khi đó ngôi nhà thêm nặng âm khí, thiếu dương khí, chưa nói đến việc lọ đựng tro cốt có thoát khí ra ngoài khiến người trong nhà rất dễ bị nhiễm bệnh.

Với gia đình Phật tử, gửi tro cốt người thân lên chùa, sẽ siêng đến chùa, sẽ có cơ hội gần Phật pháp, có cơ hội phát tâm tu tập, làm lành lánh dữ. Mặt khác khi tro cốt người thân đặt trên chùa sẽ thường xuyên được hưởng hương khói, tụng kinh nên sẽ lành hợn.

4.           TÂM LINH TRONG VIỆC HỎA TÁNG:

Theo quan điểm của cổ nhân thì con người có hai phần hợp thành Thể phách (H: 體魄, A: The body and spirit, P: Le corps et l'esprit) tức là thể xác và tinh thần hay phần “thân” và phần “tâm”. Thân (H: 身體, A: body, P: corps) là kết hợp của tứ đại (Thổ, Thủy, Phong, Hỏa), khi con người chết thì đất, nước, gió, lửa đều tan ra trở về với cát bụi còn Tâm, tức Linh hồn (H: 靈魂 , A: The soul, P: L'âme) là cái phần vô hình của con người, nó rời bỏ thể xác khi con người đã chết thì theo nghiệp lực thọ sinh và thành vong linh (H: 亡靈, A: Soul of dead person, P: L'âme du mort), cái còn lại người trần nhìn thấy chỉ là thi xác hay thi thể (H: 屍體, A: Dead body, P: Cadavre).

Ngay các tôn giáo cũng có nhận thức tương tự: Thiên Chúa giáo cho rằng “thân xác là cát bụi phải trở về cát bụi”, Phật giáo quan niệm “thân xác là nhân duyên, thần thức mượn xác nhập vào làm con người”.

Do vậy, khi con người “chết” đi, phần hồn, thần thức đã rời khỏi phần xác, đã được giải thoát nên việc “hỏa thiêu” là chỉ đốt cái xác, khác hoàn toàn hình thức “tra tấn” dưới địa phủ; linh hồn người đã khuất không bị đốt cháy nên họ không phải phải chịu sự đau đớn.

Thực tế đã minh chứng rằng: có những vấn đề không có nhưng khi tự ám ảnh thái quá thì sẽ trở thành sự thật nên cứ nghĩ “thiêu là nóng” thì sẽ lây lan ra nhiều người là “nóng” thật! Và trớ trêu thay, những “phán” này hay “nhập” vào những người “yêu bóng vía”, lâu dần thành ám thị, nguy hiểm!

Như vậy, cái mà người ta gọi là  “sức nóng” chỉ là ẩn dụ, là sự “mặc cảm” của người  sắp mất, vừa mất và thân nhân “yếu vía”. Do đó, dù là thiêu (hỏa táng) hay chôn (địa táng) thì thân xác của người chết cũng đã mất đi mọi cảm giác, không còn biết nóng lạnh, đau đớn là gì. Tất cả chỉ là do người sống nghĩ ra !.

Hơn nữa, khi chết nếu xác đã thiêu thì người chết không thể mượn xác thân của mình để hiện ra nữa nên chẳng còn “ma”, hoặc không còn lưu luyến nhân gian, quyến luyến cái thân xác cũ nên sớm đầu thai sang một kiếp khác!

Cũng vì vậy vong linh của người đã mất đều không bị ảnh hưởng đến việc siêu thoát, tái sinh và việc để lại phúc đức cho con cháu.

Mặt khác, như nhiều lần đã nghiên cứu đều khẳng định: cát táng không phải tục nguyên gốc của người Việt và tục này chỉ thịnh hành ở Bắc bộ. Đồng thời nó luôn đè nặng con cháu một nỗi no: thịt đã tiêu hết chưa, hay xương thịt, thậm chí cả ván đã bị mối xong rồi,…Lại rất mất vệ sinh! Trong khi hỏa táng hay “đào sâu chôn chặt một lần” tránh được tâm lý đó!

5.           VĨ THANH:

Hiện nay, dương gian thì đất chật người đông, âm phần thì mồ mả chen chúc, …là thực tế nhãn tiền. Đặc biệt nghĩa địa tự phát, không có quy hoạch làm ảnh hưởng xấu đến cảnh quan kiến trúc, lãng phí tài nguyên đất, không đảm bảo vệ sinh môi trường. Những vùng, gia đình còn “nệ cổ” thì việc cải táng luôn ám ảnh tâm lý, gây mất vệ sinh,…không phù hợp với cuộc sống văn minh, hiện đại…

Như trên đã phân tích thì việc “hỏa thiêu” chỉ là thiêu cái “xác” không hồn và khi đó linh hồn người chết đã thoát ra, bay đi nên không tháy có cảm giác “nóng”. Việc con cháu chôn hay thiêu xác đều có ý nghĩa như nhau; tro, xương hay thi xác được địa táng hay hỏa táng cũng đều là trả thân xác người quá cố về cho đất, nước, lửa, gió. Hiện nay, theo xu hướng chung và để hạn chế lo lắng khi chuẩn bị cát táng, để bảo vệ môi trường,… thì đúng thiêu sẽ có ý nghĩa hơn. Đồng thời di cốt là tro hay xương cũng không đưa về nhà ở (kể cả Từ đường) thờ phụng mà cần thổ táng hết hay đưa lên Chùa hoặc Nhà thờ lưu gửi.

Chúng ta ai nấy đều tôn trọng, kính quý và thương nhớ tiền nhân. Sau khi bố mẹ, ông bà,…qua đời, thực hiện nghi thức nào, ra sao là tùy gia cảnh, lệ tục dòng tọc, địa phương,… nhưng cốt yếu ở chính cái tâm của mình. Nếu làm tốt, thuận cả nhiều đường, nhiều người đều là cách chia sẻ, giúp đỡ tốt cho những cuộc ra đi của người mất và để cuộc đời người còn sống được ấm lòng, hanh thông mọi nhẽ.

Quyết định ra sao, nhất là ở những gia đình đông anh em, ở nơi “chín người mười làng” không phải quyền của một người! “Bụng toàn gia cứ vững là yên”.

-Lương Đức Mến, ngày mưa dịp 20/10/2020-

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

THƯ NGỎ VỀ VIỆC TRỒNG CÂY LƯU NIỆM TẠI HẢI PHÒNG

Kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969-2019), kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ phát động “Tết trồng cây” (1959-2019), chúng ta càng nhớ đến Bác, càng mong muốn có những việc làm thiết thực có ý nghĩa hơn.
Trong tâm tưởng ấy, trao đổi với những người tâm huyết trong Hội Đồng hương Hải Phòng tại tỉnh Lào Cai và một số tỉnh bạn chúng tôi đã gặp nhau ở một điểm là: sẽ chọn, trồng một số loại cây đặc hữu tại một vài di tích, danh thắng đặc biệt của thành phố Cảng quê hương.
Khi gặp gỡ những đồng chí lãnh đạo thành phố Hải Phòng chúng tôi đã báo cáo ý tưởng đó và lãnh đạo thành phố rất hoan nghênh, ủng hộ và có chỉ đạo cụ thể.
Vì vậy chúng tôi tha thiết kêu gọi mỗi cá nhân, mỗi tập thể hăng hái hưởng ứng việc trồng cây lưu niệm với nội dung sau:
1. ĐỊA ĐIỂM TRỒNG CÂY:
1.1. Khu di tích lịch sử Bạch Đằng Giang bao gồm: Linh Từ Tràng Kênh, Đền thờ Vua Lê Đại Hành, Đền thờ Đức vương Ngô Quyền, Đền thờ Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Đền thờ Mẫu, Đền thờ Bác Hồ, Trúc Lâm tự Tràng Kênh, Quảng Trường chiến thắng Bạch Đằng, nhà trưng bày và mô hình Bãi cọc trên sông Bạch Đằng rộng 20 ha nằm ở thôn Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, cách trung tâm của thành phố Hải Phòng chừng 25 km được khởi công xây dựng từ năm 2008 đến cuối năm 2017 hoàn thành.
Trung bình mỗi ngày nơi đây tiếp đón hơn 2 vạn du khách đến thăm quan và trải nghiệm. Hàng năm, khu du tích tổ chức nhiều dịp lễ: Lễ hội đầu Xuân, Lễ Khai ấn đền Trần 14/ Giêng, ngày Giỗ vua Lê Đại Hành 18/ Giêng, đại lễ Phật đản vào 15/4, lễ Vu Lan 15/7, ngày Giỗ Đại vương Trần Quốc Tuấn 20/8…
1.2. Khu nhà tưởng niệm lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh tại xã An Đồng huyện An Dương, nơi tìm thấy hài cốt của lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh và liệt sĩ Hồ Ngọc Lân vào tháng 9/2007. Khu di tích này rộng hơn 30 ha, với tổng mức đầu tư 110 tỷ đồng, khánh thành 30/1/2019. Trong đó Nhà tưởng niệm (đền chính) có diện tích 312 m2, gồm nhà tiền bái, hậu cung, nơi đặt ban thờ và tượng thờ lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh. Nguyễn Đức Cảnh (2/2/1908 – 31/7/1932) là là Bí thư đầu tiên của Thành ủy Hải Phòng (8/1929) và là Tổng biên tập đầu tiên của báo Lao động (7/1929). Ông từng chủ trì Hội nghị đại biểu thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ và được bầu làm Hội trưởng lâm thời; đồng thời Hội nghị đã quyết định xuất bản Báo Lao động và Tạp chí Công hội Đỏ do lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh phụ trách.
 Khu tưởng niệm là công trình thể hiện tấm lòng tri ân của các thế hệ đời sau với nhà lãnh đạo tiền bối đã cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc, đất nước và quê hương Hải Phòng.
1.3. Di tích “Bến tầu không số” K15 nằm dưới chân đồi Vạn Hoa, Đồ Sơn. Năm 1962, tại đây, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Công binh 83 thuộc Bộ Tư lệnh Công binh (Sau này thuộc Bộ Tư Lệnh Hải quân) đã xây dựng cầu tàu Đồ Sơn. Để từ ngày 11/10/1962, gần 100 chiếc thuyền, tầu không số với tổng số 168 chuyến hành trình vượt sóng chở vũ khí đạn dược xuất phát từ đây chi viện cho chiến trường miền Nam. Đây là khởi điểm đầu của con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia.  
Nhân ngày thành lập 73 năm Quân Đội Nhân Dân Việt Nam  (22/12/1944  –  22/12/2017), để tưởng nhớ chiến công của những thủy thủ trên “Tầu không số” , Tp Hải Phòng đã cho xây dựng tượng đài kỷ niệm đường Hồ Chí Minh trên biển ngay cạnh di tích bến tàu K15.
2. LOẠI CÂY:
Là những cây đặc hữu của từng địa phương có bà con người Hải Phòng làm ăn sinh sống. Ví dụ: cây Tre, Trúc, Lát Hoa, Sa Mộc, Vàng Anh cổ ở Lào Cai; cây Hồi ở Lạng Sơn; cây Dẻ ở Cao Bằng; cây Đào ở Sơn La; cây Hoa Ban ở Điện Biên; Mai Vàng phương Nam…
3. KÈM THEO ĐẤT TƯỢNG TRƯNG TỪNG VÙNG:
Đất này để lót hố, lấy tại những nơi có ý nghĩa đặc biệt. Ví dụ:
3.1.Lào Cai: đất nơi “Nóc nhà Đông Dương”, nơi đồng bào Hải Phòng đầu tiên đặt chân lên khai hoang tại Lào Cai năm 1961.
3.2.Lạng Sơn: Cửa khẩu Hữu Nghị Quan, Ải Chi Lăng.
3.3.Cao Bằng: tại hang Pắc Bó.
3.4.Sơn La: nơi trồng Cây Đào Tô Hiệu.
3.5.Điện Biên: Khu rừng Mường Phăng.
3.6. Thành phố Hồ Chí Minh: Cảng Nhà Rồng.
4. THỜI GIAN TRỒNG CÂY TẠI HẢI PHÒNG:
Sau tiết Đông Chí, tức sau Chủ Nhật ngày 22/12/2019 nhằm ngày  17 tháng 11 Kỷ Hợi đến trước Rằm tháng Giêng năm Canh Tý 2020.
Thời gian cụ thể sẽ ấn định sau khi đã báo cáo và thống nhất với lãnh đạo thành phố Hải Phòng.
5. PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN:
5.1. Hội Đồng hương Hải Phòng tại các tỉnh bàn bạc, thống nhất về chủ trương và biện pháp thực hiện trong phạm vi lãnh đạo Hội và toàn thể Hội viên.
5.2. Cây và đất ở địa phương nào do Hội Đồng hương Hải Phong nơi đó chịu trách nhiệm tổ chức việc đào, đóng gói, vận chuyển và trồng tại địa điểm được ấn định. Mọi hoạt động đều có quay phim, chụp ảnh sau đó tập hợp thành một Album chung, in để mỗi Hội giữ một bản và biếu thành phố 1 bản.
5. 3. Thường trực Ban Chấp hành Hội Đồng hương Hải Phòng tỉnh Lào Cai, tỉnh Điện Biên tự nguyện và đã được các Hội Đồng hương Hải Phòng tại các tỉnh ủy quyền là đầu mối liên hệ với quê hương; chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể sau khi có sự đồng thuận chung.
5. 4. Đề nghị Hội Đồng hương Hải Phòng tại các tỉnh đồng lòng, chung tay cùng thực hiện; thực hiện tốt công việc tại địa phương và phối hợp nhịp nhàng theo kế hoạch chung.
5. 5. Kính đề nghị lãnh đạo thánh phố, lãnh đạo các sở, ngành, Ban Quản lý liên quan để nguyện vọng của bà con được thực hiện suôn sẻ.
5.6. Thời hạn nhận thông tin gửi đến Chủ tịch Hội ĐHHP tỉnh Lào Cai:  trước 30/11/2019. Trong đó các Hội cần nêu rõ: loại cây trồng, số lượng cây, số người tham gia trồng cây, kinh phí ,…và đề nghị, đề xuất.
6. KINH PHÍ:
Phát huy truyền thống TRUNG DŨNG, QUYẾT THẮNG của quê hương đất Cảng và tinh thần DÂN CHỦ, NGHĨA TÌNH, ĐOÀN KẾT, PHÁT TRIỂN, LAN TỎA của bà con Hải Phòng trên quê mới, chúng tôi kêu gọi tấm lòng tự nguyện hiến sáng kiến, hiến cây, ủng hộ tiền của, phương tiện và công sức của mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp cùng chung tay, chung sức trên tinh thần “xã hội hóa”, không làm phiền đến quê hương.
Mọi ý kiến phản ánh; mọi đóng góp, ủng hộ về tinh thần và vật chất sẻ xin gửi về:  Trần Trọng Dương : 02 Võ Thị Sáu, Cốc Lếu, tf Lào Cai, tỉnh Lào Cai, ĐT: 0979210168 hoặc qua hộp thư: luongducmen@gmail.com .
Chúng tôi xin kêu gọi bà con, các cấp lãnh đạo Hội Đồng hương các tỉnh, lãnh đạo các cấp của thành phố Hải Phòng mở rộng tấm lòng, đồng thuận, chung tay, chung sức cùng nhau hoàn thành tốt tâm nguyện của bà con xa quê mong muốn có cây lưu niệm tại những điểm di tích, danh thắng tiêu biểu của thành phố quê hương.
Với sự “Thống nhất về nhận thức”, “Quyết tâm trong ý chí”, “Quyết liệt trong hành động” tin tưởng việc làm đầy ý nghĩa của chúng ta sẽ thành công.

Ghi chú: THƯ NGỎ này, ngoài việc gửi Thường trực Hội Đồng hương Hải Phòng các tỉnh, gửi báo cáo lãnh đạo thành phố Hải Phòng còn được đưa lên mạng xã hội qua trang: https://nguoihaiphongtrendatlaocai.blogspot.com/
Phần tóm tắt hay đầu bài đăng Phần còn lại.

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019


Chiều 04/01/2019 Thường trực Hội  Đồng hương Hải Phòng tỉnh Lào Cai (Vũ Xuân Tỉnh, Lương Ngọc Hoản, Lương Đức Mến, Đỗ Thanh Tâm)  viếng Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Phạm Thị Phước (thân mẫu hội viên Trần Văn Cải) quê Hưng Đạo, Kiến Thụy hiện ở Phú Nhuận huyện Bảo Thắng.

Sau đây là một số hình ảnh: